Đổi mới mô hình phát triển, kiến tạo động lực cho giai đoạn mới
Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Đề án Đổi mới mô hình phát triển đất nước nhấn mạnh lấy con người làm trung tâm; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu làm nền tảng; doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học làm nòng cốt của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Đây là cơ sở quan trọng để định hình mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới.
Bài 1:
Thời điểm “vàng” để chuyển đổi mô hình phát triển
Theo TS. CẤN VĂN LỰC, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, việc xây dựng Nghị quyết đổi mới mô hình phát triển Việt Nam mang ý nghĩa chiến lược, đánh dấu bước chuyển từ đổi mới mô hình tăng trưởng sang đổi mới mô hình phát triển theo hướng chất lượng cao, bền vững và bao trùm. Hiện là thời điểm "vàng" để Việt Nam thực hiện bước chuyển đổi này.
Không chỉ đổi mới tăng trưởng mà phải đổi mới mô hình phát triển
- Thưa ông, việc nghiên cứu xây dựng Nghị quyết đổi mới mô hình phát triển Việt Nam theo định hướng kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay?
- Nghị quyết đổi mới mô hình phát triển Việt Nam là sự tiếp nối quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng tại Đại hội XIV về định hướng phát triển đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Điểm quan trọng của định hướng này là không dừng ở đổi mới mô hình tăng trưởng, mà phải chuyển sang đổi mới mô hình phát triển. Nếu chỉ đổi mới tăng trưởng, nền kinh tế có thể cải thiện về “lượng” gồm quy mô GDP, xuất khẩu hay thu nhập bình quân. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ để nâng tầm về “chất” trong nấc thang phát triển thịnh vượng, văn minh và hạnh phúc.

TS. Cấn Văn Lực
"Mô hình phát triển mới đặc trưng của Việt Nam chính là sự kết hợp của 16 chữ “Tăng trưởng kinh tế - Tiến bộ xã hội - Bền vững môi trường - Nâng cao năng lực”. Mục tiêu không chỉ là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và năng lực thực thi, mà còn kiến tạo phát triển nhanh, bền vững và bao trùm”.
TS. Cấn Văn Lực
Kinh nghiệm của Trung Quốc “từ tăng trưởng nhanh sang phát triển chất lượng cao”; Hàn Quốc từ "kỳ tích sông Hàn" sang "chính sách thỏa thuận xanh mới"… đã khẳng định xu hướng tất yếu cũng như ý nghĩa của xây dựng và đổi mới mô hình phát triển quốc gia nhằm phát triển nhanh, xanh, bền vững và bao trùm hơn.
- Theo ông, những yếu tố nào đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình phát triển?
- Có thể nhìn từ cả hai phía. Bên ngoài, thế giới đang thay đổi rất nhanh với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cùng với đó là xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và những biến động địa chính trị phức tạp, các thách thức an ninh phi truyền thống.
Bên trong, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần tới hạn. Nguy cơ tụt hậu về công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu, trong khi nhiều chỉ tiêu về xã hội, môi trường, bền vững còn ở mức thấp, đòi hỏi quyết tâm rất lớn để đạt được đa mục tiêu cả về “lượng” và “chất”. Và hơn hết, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh, đó là mô hình phát triển mà con người ở vị trí trung tâm, là mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển.
Với sự hội tụ của "thiên thời - địa lợi - nhân hòa", từ quyết tâm cải cách của Đảng, Nhà nước, nền tảng sau 40 năm đổi mới đến khát vọng vươn mình của dân tộc, đây chính là thời điểm "vàng" để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển.
Tư duy “tự chủ, sáng tạo và tự thích ứng” là bước nâng tầm chiến lược
- Kết luận yêu cầu Nghị quyết cần khẳng định tư tưởng phát triển cốt lõi của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là xây dựng năng lực tự chủ, sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia, năng lực nhận thức trước những thay đổi mang tính thời đại... Cách tiếp cận này phản ánh điều gì trong tư duy phát triển?
- Có thể khẳng định, tư duy phát triển của Đảng và Nhà nước luôn được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển, đồng thời vẫn nhất quán mục tiêu giữ vững độc lập, tự chủ. Quan điểm "tự chủ, sáng tạo và tự thích ứng" là bước phát triển mới của tư duy đó, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ, tự lực, tự cường và sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động từ bên ngoài cũng như các thách thức nội tại.
Tư duy “phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực” được nâng tầm thành “tự chủ chiến lược” đã khẳng định bước tiến mạnh mẽ trong tư duy phát triển của Việt Nam, được quán triệt trong quản trị quốc gia, đổi mới mô hình phát triển và hội nhập quốc tế cũng như mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.
Theo đó, về quản trị quốc gia, Việt Nam không chỉ "ứng phó khủng hoảng" mà là "thích ứng và quản trị rủi ro chủ động”, biến thách thức thành cơ hội.
Về công nghệ, Việt Nam không chỉ tiếp thu mà còn phải tự nghiên cứu, làm chủ công nghệ Make in Vietnam, nhất là các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn…
Về các động lực tăng trưởng, Việt Nam không chỉ thu hút các “đại bàng” hàng đầu thế giới mà còn có các doanh nghiệp dân tộc đủ mạnh để dẫn dắt và có vị thế ngày càng cao trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và thế giới; tăng nội lực của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Về nhân lực, Việt Nam không chỉ là nơi hội tụ nhân tài khắp thế giới mà còn tự đào tạo, phát triển đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia xuất sắc và tâm huyết với đất nước trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quán triệt và thực thi tư duy "tự chủ, sáng tạo và tự thích ứng" sẽ giúp Việt Nam không chỉ viết lên câu chuyện thần kỳ về tăng trưởng kinh tế, mà thực sự bước sang một trang mới trong lịch sử - trở thành đất nước “tự chủ, tự cường”, lòng tự tôn dân tộc được kết tinh thành năng lực cốt lõi, lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong thời đại mới.
Mô hình phát triển mới phải hài hòa giữa Nhà nước - thị trường - xã hội
- Theo ông, mô hình phát triển mới của Việt Nam cần được thiết kế theo hướng nào?
- Mô hình phát triển của Việt Nam cần kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, nhưng phải được thiết kế trên cơ sở điều kiện thực tiễn và hệ giá trị của Việt Nam, nhằm phát huy lợi thế, khắc phục hạn chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo tôi, mô hình phát triển mới đặc trưng của Việt Nam chính là sự kết hợp của 16 chữ “Tăng trưởng kinh tế - Tiến bộ xã hội - Bền vững môi trường - Nâng cao năng lực”. Mục tiêu không chỉ là tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực và năng lực thực thi, mà còn “kiến tạo phát triển nhanh, bền vững và bao trùm”. Trong đó, cần đánh giá, nhìn nhận và nhất quán thực thi mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội.
Theo đó, Nhà nước kiến tạo phát triển cần năng lực hành chính cao, bộ máy nhà nước “tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”, cải cách mạnh mẽ quy trình xây dựng, thi hành và đánh giá pháp luật, tôn trọng các quy luật của thị trường, giữ vững ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô.
Thị trường cần vận hành năng động, minh bạch với môi trường kinh doanh thuận lợi; chính sách phân bổ nguồn lực và phúc lợi theo hướng trung, dài hạn sẽ tạo nền tảng cho các nguồn lực phát triển. Trong đó, khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng chính, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, gắn kết chặt chẽ với khu vực FDI.
Người dân và các tổ chức xã hội - trung tâm của mô hình phát triển được chú trọng nâng cao chất lượng cuộc sống, an toàn, bình đẳng, từ đó góp phần nâng cao sự đồng thuận, thực thi chính sách; đồng thời khuyến khích người dân phát huy vai trò phản biện, giám sát nhà nước và thị trường vận hành theo đúng định hướng đã xác lập.
- Đâu là những nội dung cần ưu tiên thể chế hóa để sớm đưa mô hình phát triển mới vào thực tiễn, thưa ông?
- Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định 9 định hướng, nội dung trọng yếu về mô hình phát triển mới. Theo tôi, nội dung cần ưu tiên thể chế hóa trước là nội hàm của mô hình phát triển mới.
Mô hình phát triển mới cần bao quát 5 trụ cột: quản trị quốc gia, kinh tế, văn hóa - xã hội - môi trường, quốc phòng - an ninh và hội nhập - đối ngoại; đồng thời có bộ tiêu chí theo 4 nhóm: đổi mới sáng tạo và năng suất; phát triển xanh và văn minh sinh thái; an sinh xã hội và phát triển bao trùm; tự chủ, tự cường và an ninh chiến lược quốc gia.
Hiện hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được xây dựng, nhưng chưa thật sự đầy đủ và đồng bộ theo yêu cầu của mô hình phát triển mới. Vì vậy, Nghị quyết sắp tới cần rà soát, hoàn thiện, thống nhất các chỉ tiêu phát triển theo hướng đo lường được, có thể so sánh quốc tế và giữa các địa phương. Cần ứng dụng khoa học công nghệ, dữ liệu trong thu thập, theo dõi, đánh giá thực thi, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi, đồng thời là cơ sở ra quyết định chiến lược về quản trị quốc gia một cách khoa học và hiệu quả.
- Trân trọng cảm ơn ông!











