Đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, chế biến và truy xuất nguồn gốc

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp Sơn La. Từ tổ chức vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến đến số hóa dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, các giải pháp công nghệ góp phần gia tăng giá trị nông sản, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Khu nông nghiệp trong nhà kính tại xã Lóng Phiêng.

Khu nông nghiệp trong nhà kính tại xã Lóng Phiêng.

Sơn La có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa với các sản phẩm chủ lực, như: Cà phê, chè, cây ăn quả và rau màu. Toàn tỉnh hiện có khoảng 80.600 ha cây ăn quả, trong đó 76.948 ha cho thu hoạch, sản lượng dự kiến 521.000 tấn; hơn 44.000 ha cà phê, sản lượng trên 50.000 tấn cà phê nhân mỗi năm và 6.132 ha chè. Giai đoạn 2020-2025, tỉnh triển khai 21 nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, tập trung nghiên cứu, tuyển chọn giống, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, quản lý sinh vật gây hại, tưới tiết kiệm và bảo quản sau thu hoạch. Đến nay, toàn tỉnh duy trì 8 vùng trồng trọt ứng dụng công nghệ cao với diện tích hơn 3.235 ha; trên 3.209 ha cây trồng áp dụng hệ thống tưới tự động, tiết kiệm nước.

Để nông sản nâng cao giá trị và đứng vững trên thị trường, yêu cầu đặt ra là phải kết nối chặt chẽ các khâu từ sản xuất nguyên liệu, chế biến đến tiêu thụ, bảo đảm thông tin về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Ông Dương Gia Định, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Sơn La có quy mô sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều sản phẩm đã hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tham gia thị trường trong nước và xuất khẩu. Ứng dụng khoa học công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, đầu tư công nghệ chế biến và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc gắn với dữ liệu sản phẩm là những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, minh bạch thông tin, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Sơn La hiện có hơn 44.000 ha cà phê Arabica, đã hình thành các vùng sản xuất ứng dụng công nghệ cao, chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và phát triển cà phê đặc sản. Trước yêu cầu của thị trường quốc tế, quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), việc xác định rõ vị trí, ranh giới và nguồn gốc vùng trồng trở thành yêu cầu quan trọng đối với chuỗi cung ứng cà phê. Tỉnh đã thí điểm rà soát, số hóa hơn 6.098 ha cà phê với 19.508 lô sản xuất tại xã Mường Chanh và Nậm Lầu. Dữ liệu về vị trí địa lý, ranh giới và nguồn gốc vùng sản xuất được thu thập, phục vụ quản lý vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Thành viên HTX hữu cơ Mộc Vân Trang, phường Mộc Châu dán tem truy xuất nguồn gốc cho nông sản.

Thành viên HTX hữu cơ Mộc Vân Trang, phường Mộc Châu dán tem truy xuất nguồn gốc cho nông sản.

Tại xã Nậm Lầu, công tác thu thập, chuẩn hóa dữ liệu được triển khai gắn với hiện trạng sản xuất của từng hộ dân. Ông Cầm Bun Lộc, Chủ tịch UBND xã, cho biết: Đến nay, xã đã thu thập dữ liệu vùng trồng cà phê với diện tích trên 3.432 ha, trên 13.030 lô. Cơ sở dữ liệu này giúp địa phương quản lý diện tích, xác định không gian vùng trồng, đối chiếu thông tin và tạo nền tảng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Cùng với quản lý, phát triển vùng nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp đầu tư công nghệ để nâng cao chất lượng chế biến và gia tăng giá trị sản phẩm. Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La hiện liên kết với 876 hộ dân, xây dựng 671,4 ha cà phê ứng dụng công nghệ cao; nhà máy với hệ thống chế biến ướt tự động, sấy kiểm soát nhiệt độ và phân loại màu quang học. Anh Vũ Ngọc Huy, Công ty cổ phần Phúc Sinh Sơn La, thông tin: Vùng nguyên liệu của Công ty được xác lập tọa độ GPS, ranh giới diện tích canh tác; nhật ký sản xuất được cập nhật trên sổ tay nông hộ điện tử, kết nối với hệ thống quản lý tại nhà máy. Nhờ đó, đơn vị có thể kiểm soát chất lượng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc từng lô sản phẩm, nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi sản xuất.

Hội thảo tổng kết mô hình canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu.       Ảnh: PV

Hội thảo tổng kết mô hình canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu.       Ảnh: PV

Truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là gắn mã QR hoặc tem điện tử trên bao bì. Để thông tin có giá trị, dữ liệu phải đầy đủ, chính xác và được cập nhật xuyên suốt từ vùng trồng, hộ sản xuất, vật tư đầu vào đến thu hoạch, sơ chế, chế biến, đóng gói và tiêu thụ. Khi các khâu được kết nối, doanh nghiệp thuận lợi hơn trong kiểm soát chất lượng, còn người tiêu dùng có thêm căn cứ xác thực nguồn gốc sản phẩm.

Bà Lưu Thanh Nga, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Ngành Nông nghiệp xác định đổi mới sáng tạo phải gắn với tổ chức lại vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường, lựa chọn công nghệ phù hợp với từng sản phẩm. Trọng tâm là chuẩn hóa dữ liệu sản xuất, phục vụ quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc; tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, từng bước hình thành chuỗi sản xuất được quản lý dựa trên dữ liệu.

Với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ phù hợp, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, phát triển chế biến và tăng cường liên kết chuỗi giá trị, nông sản địa phương có thêm điều kiện nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Bài, ảnh: Duy Tùng

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/chuyen-doi-so-tinh-son-la-giai-doan-2021-2025-dinh-huong-den-nam-2030/doi-moi-sang-tao-trong-nong-nghiep-che-bien-va-truy-xuat-nguon-goc-RLiQAw9vR.html