Đơn giản hóa cấp mã số vùng trồng: Tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản

Hồ sơ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ, thực hiện trực tuyến và tăng cường quản lý bằng dữ liệu số. Thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc và các cơ sở dữ liệu có liên quan.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP; tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp (DN) trong sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu nông sản, mới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo trực tuyến với gần 300 điểm cầu địa phương, lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Theo cơ quan soạn thảo, điểm mới nổi bật của dự thảo là đơn giản hóa thành phần hồ sơ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đẩy mạnh tiếp nhận, giải quyết thủ tục trên môi trường điện tử và tăng cường quản lý thông qua dữ liệu số.

Toàn bộ thông tin về vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc cùng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan. Đây được xem là nền tảng quan trọng để từng bước hình thành hệ thống quản lý hiện đại, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng nông sản.

Đối với vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, thời gian giải quyết thủ tục dự kiến được rút xuống còn không quá 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, đồng thời áp dụng cơ chế hậu kiểm để tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Trong khi đó, đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, cơ chế tiền kiểm vẫn được duy trì với thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc nhằm bảo đảm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.

Hồ sơ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ. Ảnh: NN

Hồ sơ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ. Ảnh: NN

Một nội dung quan trọng khác được hội thảo cơ bản thống nhất là việc cấp mã số vùng trồng theo vị trí thửa đất và từng bước kết nối với cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Trường hợp thông tin thửa đất chưa được cập nhật đầy đủ, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích sản xuất để làm căn cứ giải quyết thủ tục.

Theo cơ quan soạn thảo, hồ sơ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đơn giản hóa theo hướng rút gọn thành phần hồ sơ, thực hiện trực tuyến và tăng cường quản lý bằng dữ liệu số. Thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói được quản lý tập trung, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc và các cơ sở dữ liệu có liên quan.

Đối với vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, thời gian giải quyết dự kiến không quá 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, kết hợp với cơ chế hậu kiểm. Đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, tiếp tục thực hiện tiền kiểm, thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc nhằm bảo đảm đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.

Mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất và từng bước gắn với cơ sở dữ liệu đất đai. Trường hợp thông tin thửa đất chưa được cập nhật, UBND cấp xã xác nhận vị trí và diện tích sản xuất làm căn cứ giải quyết thủ tục.

Đại diện nhiều địa phương đánh giá việc cải cách thủ tục là cần thiết nhằm giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các ý kiến cũng đề nghị quy định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong xác nhận thông tin đất đai, đồng thời hướng dẫn cụ thể về trình tự thực hiện, biểu mẫu và quy trình hậu kiểm để bảo đảm tính thống nhất và khả thi khi triển khai.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng tới quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm đối với thị trường trong nước.

Theo Thứ trưởng, việc đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Đối với nông sản xuất khẩu, thời gian tiền kiểm 10 ngày là cần thiết để cơ quan chuyên môn đánh giá đầy đủ việc đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu, hạn chế rủi ro ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu nông sản Việt Nam.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ khẩn trương tiếp thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, lấy ý kiến các bộ, ngành liên quan trước khi trình Chính phủ xem xét, ban hành; theo đó, dự thảo sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp, chuyển danh sách mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, bảo đảm thống nhất đầu mối và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Để triển khai hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói; đẩy mạnh liên kết sản xuất, phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và hình thành các vùng nguyên liệu tập trung có quy mô phù hợp. Đây là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho tiêu thụ nông sản, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu nông sản của địa phương.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ chủ động làm việc với phía Trung Quốc để thúc đẩy công nhận các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã gửi; đồng thời trao đổi, điều chỉnh quy trình tiếp nhận theo hướng phù hợp với mùa vụ, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định việc tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói là giải pháp quan trọng nhằm duy trì xuất khẩu nông sản, góp phần hoàn thành mục tiêu.

Lê Minh Long

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/don-gian-hoa-cap-ma-so-vung-trong-tao-thuan-loi-cho-xuat-khau-nong-san.html