Đồng bằng sông Cửu Long cần một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất
Muốn khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của Đồng bằng sông Cửu Long thì liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân phải đi vào thực chất, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý tham dự hội thảo, cùng trao đổi các giải pháp xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả liên kết "4 nhà" tại ĐBSCL - Ảnh: VGP/LS.
Đây là thông điệp xuyên suốt được các chuyên gia, nhà quản lý đưa ra tại Hội thảo khoa học “Liên kết giữa Nhà nước – Nhà doanh nghiệp – Nhà khoa học – Người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Đồng bằng sông Cửu Long – Lý luận, thực tiễn và những vấn đề đặt ra” do Học viện Chính trị khu vực IV tổ chức, chiều 26/6.
Đổi mới sáng tạo phải bắt đầu từ liên kết thực chất
Theo TS. Trần Hoàng Hiểu, Học viện Chính trị khu vực IV, trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của mỗi quốc gia, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi đây là vùng kinh tế trọng điểm về nông nghiệp, thủy sản và kinh tế biển, nhưng đồng thời cũng chịu tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển và nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới công nghệ cũng như khả năng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Theo các chuyên gia, khoa học và công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị gia tăng phục vụ đời sống, sản xuất. Muốn làm được điều đó cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước với vai trò kiến tạo thể chế; doanh nghiệp là trung tâm ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; nhà khoa học sáng tạo tri thức, cung cấp giải pháp công nghệ; còn người dân là chủ thể tiếp nhận, ứng dụng và lan tỏa các thành tựu khoa học, công nghệ vào thực tiễn.
Từ nhiều góc độ tiếp cận, các tham luận tại hội thảo đều thống nhất rằng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là giải pháp lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực tăng trưởng mới cho Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ.
Đáng chú ý, nhiều ý kiến cho rằng liên kết "4 nhà" chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành trên cơ sở lợi ích hài hòa giữa các chủ thể, từ khâu xác định nhu cầu thực tiễn, đặt hàng nhiệm vụ khoa học, tổ chức nghiên cứu, chuyển giao công nghệ đến thương mại hóa kết quả và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Từ thực tiễn của địa phương, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ Phạm Trường Giang cho rằng Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng rất lớn để phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Là vùng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản, thủy sản, Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chủ yếu phát triển dựa trên khai thác tài nguyên, trong khi hàm lượng khoa học, công nghệ trong sản xuất còn thấp. Bên cạnh đó là những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sụt lún đất và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm.
Theo ông Phạm Trường Giang, chìa khóa tạo đột phá chính là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Muốn vậy, liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân phải được thiết lập một cách thực chất, trong đó doanh nghiệp cần giữ vai trò trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, làm cầu nối giữa nghiên cứu khoa học với thị trường và nhu cầu sản xuất.
Thực tế thời gian qua đã xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực. Các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ trong những cánh đồng lớn, chuỗi thủy sản và vùng cây ăn trái quy mô lớn từng bước hình thành; nhiều viện nghiên cứu, trường đại học đã đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu gắn với nhu cầu của sản xuất nông nghiệp; doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến đổi mới công nghệ, nhất là trong lĩnh vực chế biến nông sản và thủy sản.
Bên cạnh đó, người dân cũng từng bước tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất; hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ và chuyển giao kết quả nghiên cứu từ các viện, trường đến doanh nghiệp, hợp tác xã ngày càng được mở rộng, tạo nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng.
Gỡ điểm nghẽn để khoa học đi vào cuộc sống
Bên cạnh những kết quả bước đầu, các đại biểu cũng thẳng thắn nhìn nhận nhiều "điểm nghẽn" đang làm giảm hiệu quả liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân.
Theo ông Phạm Trường Giang, trước hết là mối liên kết giữa các chủ thể vẫn còn lỏng lẻo, thiếu những cơ chế hợp tác rõ ràng và bền vững. Phần lớn doanh nghiệp trong vùng có quy mô nhỏ nên nguồn lực dành cho nghiên cứu và phát triển còn hạn chế, trong khi các chính sách hỗ trợ chưa thật sự đồng bộ, chưa tạo động lực đủ mạnh để thúc đẩy hợp tác lâu dài giữa các bên.
Bên cạnh đó, việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu vẫn gặp nhiều khó khăn; chất lượng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ và khả năng đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số còn hạn chế. Người dân ở nhiều địa phương cũng chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin, kỹ năng và các công nghệ mới để ứng dụng hiệu quả vào sản xuất và đời sống.
Từ thực tiễn đó, nhiều ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiện đại; phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ; đổi mới cơ chế tài chính; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của vùng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và phát huy vai trò chủ thể của người dân trong quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ.
Kết luận hội thảo, TS. Nguyễn Văn Sỹ, Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực IV khẳng định, các tham luận đã góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông, trong bối cảnh phát triển nền kinh tế tri thức và chuyển đổi số, mô hình liên kết "bốn nhà" không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là điều kiện quan trọng để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của Đồng bằng sông Cửu Long.
Các đại biểu cũng thống nhất rằng mỗi chủ thể đều giữ một vai trò không thể thay thế trong hệ thống liên kết. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, điều phối nguồn lực và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển; doanh nghiệp là trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; nhà khoa học cung cấp tri thức, công nghệ và các luận cứ khoa học; còn người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối tượng trực tiếp thụ hưởng thành quả của khoa học, công nghệ.
Thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nhiều mô hình liên kết trong nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển chuỗi giá trị đã mang lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, để các mô hình này phát huy hiệu quả trên quy mô lớn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa các địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp.
Khoa học và công nghệ chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi các kết quả nghiên cứu vượt ra khỏi phòng thí nghiệm để đi vào đồng ruộng, nhà máy và thị trường. Đó cũng là mục tiêu mà mô hình liên kết "bốn nhà" hướng tới, góp phần tạo dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Đồng bằng sông Cửu Long và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.











