Đồng bằng Sông Cửu Long: Hướng đến mục tiêu trở thành vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước
Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định Đồng bằng Sông Cửu Long là 'vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước', với mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 9 - 9,5%/năm đến năm 2030. Để biến định hướng ấy thành hiện thực, vùng đất từng được biết đến bởi những cánh đồng, dòng sông và sản vật phải bước vào một không gian phát triển mới, nơi nông nghiệp được nối dài bằng công nghiệp chế biến, logistics, kinh tế số, kinh tế biển và những hành lang kinh tế liên vùng.
Từ vùng sản xuất đến vùng động lực
Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lâu nay được biết đến như vựa lúa, vùng cây ăn trái và thủy sản lớn của cả nước. Những con số về sản lượng từng làm nên vị thế của vùng trong nền kinh tế quốc dân. Nhưng phía sau những mùa vàng, những con tàu chở gạo, cá tra, tôm và trái cây ra thị trường thế giới là một câu hỏi ngày càng rõ hơn: làm thế nào để một vùng sản xuất lớn trở thành một vùng tạo ra giá trị lớn?
Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị đã đưa ra câu trả lời ở tầm chiến lược. Trong định hướng phát triển 6 vùng kinh tế - xã hội, Nghị quyết xác định ĐBSCL là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, đồng thời định hướng nơi đây trở thành trung tâm công nghiệp chế biến, công nghệ số và logistics; trung tâm phân phối, giao thương hàng hóa; trung tâm du lịch; trung tâm sản xuất, chế biến, xuất khẩu nông sản, thủy sản; đồng thời phát triển mạnh kinh tế biển, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo.
Đằng sau những định hướng ấy không đơn thuần là việc bổ sung thêm vài ngành kinh tế vào một vùng vốn mạnh về nông nghiệp. Đó là một cách nhìn mới về ĐBSCL. Nếu trước đây thế mạnh của vùng thường được đo bằng bao nhiêu tấn lúa, bao nhiêu tấn cá, bao nhiêu tấn trái cây thì trong không gian phát triển mới, vấn đề quan trọng hơn là những sản phẩm ấy tạo ra bao nhiêu giá trị, được chế biến ở đâu, đi bằng con đường nào, đến thị trường nào và phần giá trị ở lại với người sản xuất là bao nhiêu.

Cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng góp phần hoàn thiện hệ thống logictic trong vùng
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, ĐBSCL đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 9 - 9,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 6.610 USD; công nghiệp và xây dựng chiếm 26 - 27% GRDP, dịch vụ chiếm 43 - 44%; kinh tế số chiếm 23 - 24% GRDP. Những con số ấy cho thấy quy mô của yêu cầu chuyển đổi. Không thể đạt tốc độ tăng trưởng cao chỉ bằng cách làm nhiều hơn những gì đã làm mà phải làm khác đi.
Một ha đất nông nghiệp không chỉ tạo ra sản lượng mà phải tạo ra sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn. Một con cá không chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu mà phải đi sâu hơn vào chế biến. Một container trái cây không chỉ cần đến được cửa khẩu mà phải đến thị trường với chất lượng, thời gian và chi phí cạnh tranh. Đó là lý do phát triển công nghiệp chế biến, logistics, kinh tế số, dịch vụ và các chuỗi giá trị gắn với lợi thế từng địa phương trở thành những mắt xích quan trọng trong không gian phát triển mới.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Doãn Tới, Tổng Giám đốc Tập đoàn Nam Việt, nhìn thấy rất rõ yêu cầu này từ quá trình phát triển ngành thủy sản. Năm 2026, Nam Việt đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu khoảng 300 triệu USD, tiếp tục phát triển cá tra, cá rô phi và nâng giá trị sản phẩm xuất khẩu.
Theo ông Doãn Tới, muốn ĐBSCL bứt phá, cần ưu tiên kết nối hạ tầng giao thông và logistics. Khi hạ tầng thông suốt, dòng vốn, công nghệ và sự liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả. Từ con cá đến trái cây, yêu cầu của thị trường cũng ngày càng cao. Sản phẩm muốn đi xa không chỉ cần có sản lượng mà còn phải bảo đảm chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo quản sau thu hoạch và thời gian vận chuyển.
Bà Trần Thị Diệu Hoa, thương nhân xuất khẩu trái cây tỉnh Đồng Tháp, cho rằng muốn nâng tầm giá trị trái cây ĐBSCL phải chuẩn hóa ngay từ vùng nguyên liệu, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn ở logistics và bảo quản. Khi chất lượng đồng đều, thời gian bảo quản được kéo dài và chi phí vận chuyển giảm, giá trị cũng như thương hiệu trái cây Việt Nam sẽ có thêm điều kiện vươn xa trên thị trường quốc tế.
Hai góc nhìn từ doanh nghiệp và thương mại cùng cho thấy một yêu cầu: nông nghiệp ĐBSCL không thể đứng một mình. Nó phải nối với nhà máy; nhà máy nối với kho, cảng và logistics; logistics nối với thị trường. Toàn bộ chuỗi ấy cuối cùng phải quay trở lại phục vụ người sản xuất. Vì vậy, hạ tầng giao thông không chỉ nhằm rút ngắn thời gian đi lại mà còn góp phần tổ chức lại không gian sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hóa của toàn vùng.

ĐBSCL từ lâu được biết đến là thủ phủ của ngành cá tra
Mở không gian tăng trưởng mới
Nếu những tuyến cao tốc được xem là những mạch nối mới của ĐBSCL thì phía sau đó phải là những dòng chảy hàng hóa mới. Vùng nguyên liệu có thể kết nối nhanh hơn với nhà máy; nhà máy tiếp cận cảng thuận lợi hơn; nông sản từ ruộng, ao nuôi đến thị trường trong thời gian ngắn hơn. Khi ấy, giao thông không còn đơn thuần là câu chuyện của những cây cầu, tuyến đường. Hạ tầng trở thành công cụ tổ chức lại không gian kinh tế.
Nghị quyết 27 yêu cầu ưu tiên phát triển các hành lang kinh tế kết nối các vùng động lực, đô thị, trung tâm kinh tế, đầu mối giao thông và khu vực sản xuất. Tư duy này đặt các địa phương trong mối quan hệ bổ trợ, thay vì mỗi nơi tự xây dựng một không gian phát triển riêng.
Trong cấu trúc ấy, Cần Thơ có vị trí đặc biệt. Lãnh đạo TP.Cần Thơ cho biết, để thực hiện Nghị quyết 27 về phát triển ĐBSCL, thành phố tập trung vào ba nhóm giải pháp. Trước hết là xây dựng đầu mối kết nối sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản và logistics của vùng, hoàn thiện hệ thống kho vận, cảng biển và chuỗi cung ứng lạnh nhằm giảm chi phí logistics.
Cùng với đó là hoàn thiện hạ tầng giao thông chiến lược, phối hợp đẩy nhanh các tuyến Mỹ Thuận - Cần Thơ, Cần Thơ - Cà Mau, Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng; nâng cấp luồng tàu trọng tải lớn vào sông Hậu, hiện đại hóa cụm cảng Cái Cui và mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cần Thơ. Thành phố cũng xác định cần khai thác hiệu quả chính sách đặc thù theo Nghị quyết 45/2022/QH15 để thu hút nhà đầu tư chiến lược, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về quy hoạch vùng nguyên liệu và xúc tiến thương mại liên tỉnh.
Nhưng một không gian vùng chỉ thật sự vận hành khi từng địa phương tìm được vị trí của mình trong tổng thể ấy. An Giang là một ví dụ rất rõ. Từ vị trí đầu nguồn, không gian biên giới, hệ thống cửa khẩu, vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản đến các trục giao thông kết nối với Cần Thơ, TPHCM và Campuchia, tỉnh có nhiều điều kiện để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị của vùng. Một báo cáo về hạ tầng logistics của An Giang cũng xác định tỉnh có vai trò kết nối vùng đầu nguồn, nội đồng, ven biển và biên giới, đồng thời có tiềm năng đảm nhận các chức năng thu gom, sơ chế, chế biến, kho bãi và trung chuyển hàng hóa.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng, trong không gian phát triển mới, tỉnh tập trung khai thác những lợi thế cốt lõi qua ba hướng đột phá. Trước hết là chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, cá tra và trái cây; đẩy mạnh khoa học - công nghệ, chế biến sâu, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và tham gia tích cực vào Chương trình 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao.
Cùng với đó là phát triển kinh tế biên giới và logistics cửa khẩu, nâng cấp hạ tầng các cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, Vĩnh Xương, Khánh Bình, hình thành các trung tâm thương mại, kho vận hiện đại, đơn giản hóa thủ tục thông quan và tăng cường hợp tác với Campuchia.

Sản xuất lúa gạo là thế mạnh của vùng ĐBSCL
Đặc biệt, An Giang ưu tiên kết nối giao thông liên vùng, trọng tâm là cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng. Sự kết nối giữa đường bộ, đường thủy nội địa và logistics biên giới sẽ giúp tối ưu chi phí vận chuyển, đưa nông - thủy sản tiếp cận thị trường nhanh hơn. Lợi thế đầu nguồn - cửa ngõ, theo hướng kết hợp nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biên giới và logistics, được xem là một hướng để An Giang tham gia sâu hơn vào không gian kinh tế chung của ĐBSCL.
Không gian ấy cũng không chỉ hướng vào nội vùng. Nghị quyết định hướng phát triển mạnh kinh tế biển, cảng biển, logistics, du lịch biển đảo, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo. Đồng thời, nông nghiệp tiếp tục được tổ chức theo hướng sinh thái, tuần hoàn, hữu cơ, ứng dụng khoa học - công nghệ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều đó cho thấy biến đổi khí hậu không còn chỉ là một vấn đề môi trường. Nó phải được tính ngay trong cách tổ chức phát triển.
ĐBSCL phải phát triển trong điều kiện của chính mình, dựa vào đặc điểm sông nước, đất đai, hệ sinh thái và nguồn nước; sử dụng hiệu quả tài nguyên, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Sau cùng, mọi thay đổi ấy phải trở lại với người nông dân.
Ông Nguyễn Văn Đực, nông dân xã Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nhìn vấn đề từ chính đồng ruộng của mình. Theo ông, khi giao thông, kho vận, nhà máy chế biến và thị trường thuận lợi hơn, người nông dân sẽ có thêm điều kiện giảm cảnh "được mùa mất giá”. Nếu có hệ thống bảo quản và chế biến sâu ngay tại vùng nguyên liệu, sản phẩm sau thu hoạch sẽ bớt phụ thuộc vào việc bán tháo trong thời điểm thu hoạch rộ. Cùng với đó, doanh nghiệp và nông dân cần tăng cường hợp đồng bao tiêu dài hạn, giá cả rõ ràng để người sản xuất yên tâm đầu tư.
Từ người nông dân đến doanh nghiệp, từ vùng nguyên liệu đến thị trường, từ Cần Thơ đến An Giang và các địa phương khác, một yêu cầu đang hiện lên ngày càng rõ: ĐBSCL phải được tổ chức như một không gian kinh tế thống nhất hơn. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 27 khi đặt vấn đề phát triển các vùng động lực, hành lang kinh tế, các cực tăng trưởng và hệ thống hạ tầng có tính liên kết.
Nghị quyết 27 đặt trước ĐBSCL mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 9 - 9,5% mỗi năm đến năm 2030. Để đạt mục tiêu ấy, vùng không chỉ cần thêm những công trình mới mà cần một cách tổ chức phát triển mới. Từ sản xuất đến giá trị. Từ từng địa phương đến liên kết vùng. Từ nguyên liệu đến chế biến. Từ những vùng sản xuất đến những hành lang kinh tế. Và từ lợi thế tự nhiên của đất Chín Rồng đến một nền kinh tế có khả năng tạo ra giá trị cao hơn, xanh hơn, kết nối sâu hơn với cả nước và thế giới.

