Đồng đội ơi, khắc khoải ta tìm nhau!: Bài cuối: Dấu hiệu nhận diện và niềm mong mỏi cháy bỏng trong tim
Trong câu chuyện xúc động của các cựu chiến binh Tiểu đoàn 308, họ không chỉ tự hào về sự chiến đấu dũng cảm, kiên cường của các đồng đội mà còn canh cánh trong lòng niềm mong mỏi cháy bỏng là sẽ tìm manh mối, kết nối thông tin, làm sao có thể cung cấp được hồ sơ, di vật giúp cơ quan chức năng tìm kiếm được hài cốt, di vật của đồng đội trong Chiến dịch 500 ngày đêm, đặc biệt là tại rãnh chôn tập thể ở Công viên Lê Thị Riêng, TPHCM. Liệu tâm nguyện ấy có được như ý?
Những ký hiệu riêng biệt
Trước câu hỏi: "Tiểu đoàn 308 có điểm gì đặc biệt để nhận diện, phân biệt với các đơn vị khác?". Trong chiến tranh, giữa một chiến trường đầy biến động, việc nhận diện đồng đội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với những người lính Tiểu đoàn 308, những dấu hiệu trên trang phục đã trở thành một phần ký ức không thể quên. Không cần suy nghĩ, chú Hồng kể ngay: "Thời điểm đó ai có gì mặc nấy, quần áo chủ yếu là những màu tối, trên đầu có chăng là chiếc mũ tai bèo.
Nhưng có một dấu hiệu để nhận diện quân của Tiểu đoàn 308 đó là trên ngực áo hoặc trên nón của mỗi chiến sĩ đều có hàng chữ: "Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Ở tay trái, mỗi người còn thắt một dải vải đỏ rộng khoảng hai ngón tay". Dữ liệu này chú Hồng đưa ra được các cô chú ngồi kế bên gật gù xác nhận. Những dấu hiệu đơn giản ấy trở thành điểm nhận diện của những người lính giữa chiến trường. Một dòng chữ, một dải vải đỏ - những thứ tưởng như rất nhỏ bé nhưng đối với người trong cuộc lại mang theo cả một tinh thần lớn.

Bia tưởng niệm Tiểu đoàn 308 Anh hùng tại xã Vĩnh Xuân ngày nay
Theo lời kể của cựu chiến binh Âu Văn Hồng thì khi đánh vào Phú Lâm và cầu Chữ Y, Tiểu đoàn 308 và Tiểu đoàn 1 Long An cùng tham gia chiến đấu rất quyết liệt. Còn chú Thái Văn Gồm (Hai Gồm, thương binh 4/4) thì cười xuề xòa, giải thích: "Tôi ở Tiểu đội cối 61, Đại đội 63, Tiểu đoàn 308.
Ông Tám Phước là Đại đội phó. Anh Sáu Thôn là Đại đội trưởng. Đường ra chiến trận thì cũng giống như anh Hồng đã kể. Khi đánh vào Phú Lâm, tôi bị thương được đưa ra chuồng trâu của nhà dân nằm tạm. Mấy ngày sau, tôi bị địch bắt đưa về giam ở biệt khu Thủ đô, sau đưa đi khám Hố Nai, Biên Hòa. Năm 1971, thấy tôi còn nhỏ, không khai thác được gì nên địch thả cho về".
Có việc đột xuất không tham gia gặp gỡ đồng đội, nhưng chú Nguyễn Văn Ba (Ba cụt) có để lại thông tin cho biết: Bản thân tham gia du kích xã Thuận Thới. Sau đó, một trung đội du kích có anh Ba Cuột - làm Xã đội phó - được rút lên bổ sung cho Tiểu đoàn 308, ở Đại đội 63, Trung đoàn 3. Mậu Thân 1968, lúc tiến quân về Sài Gòn có đi qua Tiền Giang, Đồng Tháp, qua hướng Campuchia xuống Sài Gòn vào khu Phú Lâm.
Địch đánh ngày đầu, Hai Gồm bị thương. Tôi đánh khoảng được 10 ngày thì bị thương và bị địch bắt đưa về nhà thương Chợ Quán cắt tay. Khi ổn định sức khỏe, chúng đưa tôi vào khám giam ở Hố Nai, Biên Hòa. Tại đây, tôi gặp Hai Gồm và anh Ba Cuột. Khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, tôi được địch tha. Về Thuận Thới, tôi tiếp tục tham gia du kích cho đến ngày giải phóng".
Lý giải về việc dẫu mang thương tích nhưng vẫn tham gia chiến đấu đến cùng, chú Hai Gồm chia sẻ: "Gia đình có truyền thống yêu nước nên khi được tha, tìm về quê nhà, tôi tiếp tục tham gia Cách mạng, chiến đấu tại nhiều chiến trường cho đến ngày giải phóng. Khát vọng lớn nhất của tôi và các đồng đội khi ấy là "quyết tâm đánh đuổi quân giặc để đất nước được giải phóng, dân được ấm no".
Chú Hồng nhớ lại: "Nhìn thấy đồng đội ngã xuống ngay trước mắt, ai cũng đau, cũng căm thù nhưng... không sợ". Đó là điều khiến chú Hồng và những người đồng đội năm xưa luôn nhấn mạnh khi kể về thế hệ mình. Sự can đảm ấy không có nghĩa những người lính không biết thế nào là mất mát.
Ngược lại, chính vì hiểu cái giá của chiến tranh, họ càng mong muốn ngày hòa bình đến sớm hơn. Trong lời kể của các chú Hồng, Gồm và Ninh thì khát vọng lớn nhất của những người lính lúc đó rất giản dị: giải phóng quê hương, đất nước khỏi chiến tranh, để người dân được sống trong hòa bình, ấm no, không còn khổ sở vì cảnh chiến tranh, ly loạn. Đó là lý tưởng đã nâng đỡ những người lính trẻ đi qua những ngày tháng khắc nghiệt.
58 năm - một đời người, một lời nhắc nhớ
58 năm sau, những cựu chiến binh Tiểu đoàn 308 gặp lại nhau. Cuộc gặp ấy không chỉ là cuộc hội ngộ của những người đồng đội mà còn là dịp để họ nhắc nhớ về những người đã không thể trở về. Trong ký ức của chú Hồng, chú Ninh... con số hơn 45 người còn lại sau trận đánh, đồng nghĩa với việc hơn 300 người khác đã vĩnh viễn không về. Một chiếc áo, một chiếc mũ, một vật dụng cá nhân... không người nhận có thể đã từng gắn với một khuôn mặt, một giọng nói, một câu chuyện. Khi chủ nhân không còn, những vật ấy trở thành chứng nhân lặng lẽ của chiến tranh nhưng chiến trường ác liệt đã cuốn người còn lại vào các chiến trường, không có khoảng lặng để nhìn lại, để làm gì cho đồng đội.

Cuộc gặp ấm cúng của các cựu chiến binh
Đó cũng là lý do cuộc gặp của các cựu chiến binh lần này có ý nghĩa đặc biệt hơn. Bởi ký ức nếu không được kể lại sẽ dần phai mờ theo thời gian. Những người từng trực tiếp sống trong chiến tranh rồi sẽ ngày một ít đi. Những câu chuyện họ mang theo cũng có thể vơi dần theo năm tháng. Vì vậy, mỗi lần gặp nhau, những người lính năm xưa lại kể. Họ kể về đồng đội, về những cuộc hành quân, về những trận đánh, về những nơi từng đi qua. Và trên hết, họ kể về tuổi trẻ của mình.
58 năm đủ để một thế hệ trưởng thành, đủ để những đứa trẻ năm nào trở thành ông, bà, cha, mẹ, đủ để những vùng đất từng hứng chịu bom đạn thay đổi diện mạo. Nhưng đối với những người lính Tiểu đoàn 308, ký ức về những ngày chiến đấu vẫn còn đó. Cuộc gặp giữa ông Nguyễn An Ninh, Thái Văn Gồm và Âu Văn Hồng vì thế không chỉ là cuộc gặp của những người đồng đội đã lâu không gặp. Đó là cuộc trở về với ký ức.
Họ bắt tay nhau, nhìn nhau, nhắc tên những người đã khuất. Không ai muốn chiến tranh trở lại. Bởi chính những người từng đi qua chiến tranh hiểu rõ nhất giá trị của hòa bình. Những người lính Tiểu đoàn 308 năm xưa đã bước vào tuyến lửa khi tuổi đời còn rất trẻ, mang trên ngực hoặc trên vành nón dòng chữ "Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Gần sáu thập niên sau, dòng chữ ấy vẫn còn trong ký ức. Nhưng điều còn sâu sắc hơn cả một khẩu hiệu chính là câu chuyện về những con người đã sống, chiến đấu và hy sinh trong một thời kỳ đặc biệt của đất nước. Cuộc gặp sau 58 năm rồi sẽ khép lại.
Những cái bắt tay sẽ rời nhau, những người lính già sẽ trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng ký ức về Tiểu đoàn 308, về những người đã ngã xuống, về dòng sông Tân Bửu và những ngày tháng đợt 2 Mậu Thân 1968 vẫn sẽ còn được nhắc lại. Bởi đó không chỉ là ký ức của riêng những người sống sót. Đó là một phần ký ức của lịch sử, được gìn giữ bằng chính những câu chuyện của những người đã từng đứng giữa tuyến lửa và bước ra từ chiến tranh.
Trong câu chuyện của những cựu chiến binh, mong mỏi lớn nhất của họ vẫn là hy vọng có thể tìm thấy hài cốt, di vật của đồng đội đã hy sinh trong trận Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn tại rãnh chôn tập thể Công viên Lê Thị Riêng. Nếu điều hy vọng ấy trở thành sự thật và đồng đội sẽ được quy tập đưa về Nghĩa trang Liệt sĩ, quê nhà thì người còn sống cũng thấy thanh thản, nhẹ nhàng biết bao. Chú Nguyễn An Ninh khắc khoải: "Anh Hồng là nhân chứng sống đã tham gia chiến đấu tại khu vực Phú Lâm và cầu Chữ Y.
Theo như anh Hồng nói thì Tiểu đoàn 308 và Tiểu đoàn 1 Long An đã cùng chiến đấu tại đây. Hiện tại, di vật của Liệt sĩ Huỳnh Văn Quên - Tiểu đoàn 1 Long An - đã được tìm thấy tại rãnh chôn tập thể ở Công viên Lê Thị Riêng. Vì vậy nhiều khả năng các đồng đội của Tiểu đoàn 308 cũng nằm tại đây. Mong mỏi của chúng tôi là sẽ tìm thấy hài cốt, di vật còn lại của anh em Tiểu đoàn 308. Điều đó xảy ra trên thực tế thì quá là xúc động!".
Tài liệu của Ban liên lạc Tiểu đoàn 308 ghi nhận: Tiểu đoàn 308 được thành lập lần thứ nhất vào cuối năm 1948, làm lễ xuất quân tại Giồng La Gi, xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 20/3/1949. Năm 1954 tập kết ra Bắc. Tiểu đoàn 308 được tái lập lần 2 vào tháng 12/1967 tại Vĩnh Long nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mâu Thân (1968) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào thị xã Vĩnh Long.
Sau đợt 1 Mậu Thân, Tiểu đoàn 308 được điều động về tham gia đánh chiếm Sài Gòn. Lần thứ 3, Tiểu đoàn 308 được tái lập cùng với việc thành lập Trung đoàn 3, Quân khu 9 vào tháng 4/1968 tại xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Sau một năm (1969) được quyết định sáp nhập vào Tiểu đoàn 306. Lần thứ 4: Tiểu đoàn 308 một lần nữa được tái lập vào năm 1971 nhằm đáp ứng yêu cầu lực lượng vũ trang làm nòng cốt đánh địch "Bình định nông thôn". Tiểu đoàn 308 sau này đổi tên là Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 3, Sư đoàn 330, Quân khu 9...
Ngày 22/02/2010, Chủ tịch nước ký tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân cho Tiểu đoàn 308 do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Năm 1999, Tỉnh ủy, UBND và Nhân dân tỉnh Vĩnh Long với sự hỗ trợ của Bộ tư lệnh Quân khu 9, của lãnh đạo các tỉnh Trà Vinh, Đồng Tháp, Bến Tre, Cần Thơ, Sóc Trăng và nhiều "Mạnh thường quân" đã xây dựng tượng đài Tiểu đoàn 308 tại xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn - nơi năm 1949 Tiểu đoàn đã xuất quân.
Đưa cho phóng viên xem cuốn thành tích của Tiểu đoàn 308 thời kháng chiến chống thực dân Pháp, chú Ba Bê rưng rưng: "Chú muốn viết tiếp truyền thống lịch sử của Tiểu đoàn 308 thời kỳ chống Mỹ nhưng tư liệu hiếm quá, các chú, các anh sống được tới hòa bình thì giờ cũng hao hụt theo năm tháng, nếu không nhanh e sợ không còn kịp. Nếu các chú, các anh thuộc Tiểu đoàn 308 hy sinh tại Sài Gòn mà được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng thì hay biết mấy, vì ít nhiều cũng có cơ sở sử liệu xác định và tìm kiếm các đầu mối tiếp theo".

