Đông Nam Á tăng kiểm soát mạng xã hội với trẻ em
Nhiều nước trong khu vực đang tăng biện pháp bảo vệ trẻ em trước tin giả, nội dung độc hại và rủi ro trực tuyến, song hiệu quả thực thi quy định vẫn là thách thức lớn.
Làn sóng siết quản lý mạng xã hội với trẻ em đang gia tăng tại Đông Nam Á, khi ngày càng nhiều chính phủ muốn hạn chế những rủi ro trên không gian số. Dù nhận được sự ủng hộ từ nhiều bậc phụ huynh, việc thực thi các biện pháp này vẫn là thách thức lớn.
Tại Malaysia, nghệ sĩ hài Rizal van Geyzel, chủ câu lạc bộ hài kịch Crackhouse Comedy ở vùng Taman Tun Dr Ismail, ngoại ô Kuala Lumpur, cho biết anh không cho ba người con của mình, hiện 6, 14 và 15 tuổi, sử dụng mạng xã hội. Theo anh, đây là cách để tránh cho trẻ tiếp xúc sớm với tin giả, nội dung khiêu dâm, những kẻ rình rập trên mạng và thói quen sử dụng mạng xã hội theo hướng tiêu cực.

Nhiều nước trong khu vực đang tăng biện pháp bảo vệ trẻ em trước tin giả, nội dung độc hại và rủi ro trực tuyến. Ảnh: Life As Mama
“Có thể các con sẽ không hài lòng, nhưng đó là điều cha mẹ phải chấp nhận để bảo vệ sức khỏe tinh thần và sự an toàn cho con,” anh Rizal van Geyzel nói.
Quan điểm này đang nhận được sự ủng hộ ngày càng rộng trong khu vực. Tháng trước, Indonesia trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng các nền tảng mạng xã hội lớn. Malaysia cũng đang cân nhắc biện pháp tương tự trong năm nay, còn tại Philippines, các nhà lập pháp đã kêu gọi ban hành luật cùng hướng.
Theo Bộ trưởng Truyền thông và Kỹ thuật số Indonesia Meutya Hafid, mọi nền tảng số hoạt động tại nước này đều được yêu cầu tuân thủ lệnh cấm từ ngày 28-3. Bà cho biết việc thực thi sẽ được triển khai theo từng bước, nhưng yêu cầu chấp hành sẽ được áp dụng nghiêm.
Các biện pháp này nhận được sự ủng hộ lớn từ nhiều phụ huynh. Anh Rizal Van Geyzel cho rằng chính quyền thậm chí nên cân nhắc nâng giới hạn độ tuổi lên 18. Một nghiên cứu công bố hôm thứ Ba cho thấy 77% phụ huynh tại Malaysia ủng hộ lệnh cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội, tỷ lệ cao nhất trong số 15 quốc gia được khảo sát, gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản.
Kết quả sơ bộ từ nghiên cứu do Quỹ Varkey, một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận tại Anh, thực hiện cũng cho thấy 65% người thuộc thế hệ Z tại Malaysia ủng hộ việc siết kiểm soát mạng xã hội hơn nữa.
Singapore chưa chọn cách cấm hoàn toàn, mà đang xem xét hạn chế một số tính năng đối với người dùng trẻ tuổi, như nhắn tin trực tiếp và tự động phát video, đồng thời làm việc với các công ty công nghệ lớn để tăng cường an toàn trực tuyến.
Tháng trước, Bộ trưởng Phát triển Kỹ thuật số và Thông tin Singapore Josephine Teo cho biết nước này đang theo dõi chặt chẽ việc triển khai các lệnh cấm tại một số quốc gia khác. Bà cũng lưu ý rằng các biện pháp quá cứng rắn có thể khiến trẻ em chuyển sang những nền tảng ít phổ biến hơn.
Janice, một bà nội trợ 41 tuổi ở Singapore có con trai 12 tuổi sử dụng ứng dụng nhắn tin WhatsApp, nền tảng trò chơi trực tuyến Roblox và ứng dụng trò chuyện trực tuyến Discord cho rằng cách tiếp cận của nước này là phù hợp.
“Đó là một bước đi đúng hướng,” bà nói khi đề cập các biện pháp như cấm điện thoại thông minh trong trường học.
Bà cho biết điều khiến mình lo ngại nhất là sự lan truyền của tin giả và những nội dung không phù hợp với trẻ em.
“Sẽ rất nguy hiểm khi trẻ em hành động dựa trên những điều chúng tin là đúng nhưng hóa ra lại là sai. Điều này rất phổ biến ở trẻ em,” Janice nói.
Bà cũng bày tỏ ủng hộ việc cấm trẻ em sử dụng các nền tảng chia sẻ nội dung như Facebook, Instagram và TikTok. Theo bà, trẻ em cần được trang bị kiến thức nền tảng trước khi tiếp cận những nguồn thông tin chưa được kiểm duyệt.
Ross Tapsell, Phó Giáo sư tại Trường Cao đẳng châu Á và Thái Bình Dương thuộc Đại học Quốc gia Úc, cho rằng cơ sở để siết quản lý đang ngày càng rõ hơn. Theo ông, dư luận tại Đông Nam Á và Úc ngày càng hoài nghi về mức độ trách nhiệm của các nền tảng công nghệ.
“Trong các cuộc tranh luận giữa tự do ngôn luận và quản lý, ngày càng nhiều người cho rằng các nền tảng công nghệ thiếu trách nhiệm và chỉ tập trung tối đa hóa lợi nhuận,” ông Tapsell nói.
Tuy nhiên, khâu thực thi vẫn là bài toán khó. Kinh nghiệm từ Úc, quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành lệnh cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội vào tháng 12 năm ngoái, cho thấy hiệu quả chưa đồng đều. Một nghiên cứu của chính phủ công bố tháng trước cho thấy 7/10 phụ huynh nói con họ vẫn duy trì tài khoản mạng xã hội sau khi các hạn chế có hiệu lực.
Một khảo sát khác do YouGov, công ty nghiên cứu thị trường và thăm dò dư luận toàn cầu, thực hiện cho thấy trong số các phụ huynh có con dưới 16 tuổi, cứ năm người thì có hai người ghi nhận từ hai đến bốn thay đổi hành vi tiêu cực, như chuyển sang các nền tảng thay thế, ít được kiểm soát hơn, hoặc giảm kết nối xã hội. Tuy vậy, khoảng 3/5 số phụ huynh được hỏi cũng cho biết con họ có thay đổi tích cực, như tham gia nhiều hơn vào các cuộc gặp gỡ trực tiếp.
Theo ông Tapsell, việc cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội rất khó thực hiện trong thực tế, do nhiều em vẫn sẽ tìm cách lách luật.
“Thành thật mà nói, biện pháp này có thể không hiệu quả về lâu dài, nhưng nó cho thấy các chính phủ đang quan tâm hơn đến mặt trái của công nghệ số mới và cách kiểm soát chúng,” ông nói.
Ysa Marie Cayabyab, nghiên cứu viên cộng tác tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho rằng các nước Đông Nam Á có thể sẽ tiếp tục siết quản lý mạng xã hội, nhưng lệnh cấm hoàn toàn khó được áp dụng rộng rãi.
“Các lệnh cấm toàn diện có thể bị giới hạn bởi khác biệt về năng lực quản trị, ưu tiên chính sách và khả năng thực thi,” bà nói, đồng thời nhận định các biện pháp này nhiều khả năng sẽ được triển khai từng bước và không đồng đều trong khu vực.
Theo bà, việc siết quản lý càng trở nên cấp thiết khi tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh ngày càng tăng, kéo theo nhiều rủi ro hơn đối với trẻ em trên môi trường mạng. Bà cho biết những yếu tố văn hóa, như tâm lý ngại ảnh hưởng đến danh tiếng, có thể khiến người dùng trẻ tuổi chần chừ khi báo cáo các hành vi bắt nạt trực tuyến hoặc quấy rối tình dục. Bên cạnh đó, mức độ hiểu biết số không đồng đều cũng khiến vấn đề thêm phức tạp.
“Nội dung độc hại thường được điều chỉnh theo ngôn ngữ và yếu tố văn hóa địa phương, khiến tác động cảm xúc mạnh hơn, đồng thời làm việc phát hiện và kiểm duyệt chính xác trở nên khó khăn hơn,” bà Cayabyab nói.
Theo SCMP, China Daily
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dong-nam-a-tang-kiem-soat-mang-xa-hoi-voi-tre-em-745875.html











