Đồng Tháp: Tăng cường cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác cấp, quản lý, kiểm tra, giám sát và sử dụng mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG), UBND tỉnh Đồng Tháp vừa có văn bản chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường công tác cấp, quản lý MSVT, MSCSĐG trên địa bàn tỉnh.

Mã số vùng trồng là yêu cầu bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu hiện nay.

Mã số vùng trồng là yêu cầu bắt buộc đối với nông sản xuất khẩu hiện nay.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), thời gian qua, công tác cấp, quản lý, kiểm tra, giám sát và sử dụng MSVT, MSCSĐG trên địa bàn tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế, nhất là trong công tác rà soát, cập nhật thông tin, quản lý hồ sơ, kiểm tra sau cấp mã số và giám sát việc duy trì các điều kiện theo quy định.

Để kịp thời khắc phục các tồn tại, hạn chế nêu trên, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác cấp, quản lý, kiểm tra, giám sát và sử dụng MSVT, MSCSĐG, bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và yêu cầu Sở NN&MT chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương có liên quan tham mưu, trình UBND tỉnh điều chỉnh Quyết định số 1121/QĐUBND về phân công thực hiện cấp và quản lý MSVT, MSCSĐG trên địa bàn tỉnh, bảo đảm phù hợp với các quy định, chỉ đạo mới của Trung ương, trong đó có Nghị quyết số 36/2026/NQCP của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính về MSVT, MSCSĐG. 

Đồng thời, rà soát, hoàn thiện quy trình nội bộ về tiếp nhận, thẩm định, kiểm tra, cấp, cấp lại, quản lý, giám sát và thu hồi MSVT, MSCSĐG, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong từng khâu thực hiện.

Một trong những nội dung quan trọng là rà soát, chấn chỉnh công tác tiếp nhận, thẩm định và xử lý hồ sơ; thực hiện nghiêm việc tiếp nhận, lập phiếu tiếp nhận, giao nhận hồ sơ, xác định thời điểm tiếp nhận và thời hạn giải quyết; kiểm soát chặt chẽ thành phần hồ sơ, nội dung thuyết minh, biên bản kiểm tra thực tế và tài liệu chứng minh điều kiện kỹ thuật trước khi cấp mã số. 

Tăng cường kiểm tra đầy đủ, chính xác, thống nhất của thông tin trong hồ sơ, biên bản kiểm tra và quyết định cấp mã số, hạn chế sai sót trong quá trình giải quyết.

Song song đó, là tổ chức rà soát, phân loại toàn bộ MSVT, MSCSĐG còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh; tập trung kiểm tra các trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, thông tin chưa thống nhất, không duy trì điều kiện theo quy định, có dấu hiệu vi phạm hoặc sử dụng mã số không đúng mục đích.

Đối với các trường hợp phát hiện tồn tại, yêu cầu khắc phục theo quy định. Trường hợp không khắc phục hoặc có vi phạm thì thực hiện tạm dừng, thu hồi hoặc xử lý theo thẩm quyền.

Ngành NN&MT chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và địa phương khẩn trương tổ chức thực hiện đầy đủ kế hoạch kiểm tra, giám sát MSVT, MSCSĐG năm 2026; kết hợp kiểm tra định kỳ và đột xuất, ưu tiên các vùng trồng, cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, nhất là các mặt hàng, thị trường có yêu cầu cao. Đặc biệt là kịp thời xử lý, cập nhật và thông báo các trường hợp mã số bị cảnh báo, tạm dừng hoặc thu hồi; bảo đảm hồ sơ kiểm tra, xử lý được lập và lưu trữ đầy đủ theo quy định.

Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường hướng dẫn, kiểm soát việc sử dụng MSVT, MSCSĐG trong toàn bộ chuỗi từ sản xuất, thu mua, sơ chế, đóng gói đến xuất khẩu; kiểm soát việc sử dụng thông tin mã số trên hồ sơ, nhãn hàng hóa và các tài liệu liên quan. 

Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nhật ký sản xuất điện tử, truy xuất nguồn gốc và các nền tảng số trong quản lý mã số; từng bước xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu thống nhất phục vụ công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc sản phẩm…

UBND tỉnh giao Thanh tra tỉnh, Sở Công thương, Sở Khoa học và Công nghệ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, phối hợp với Sở NN&MT tăng cường công tác cấp, quản lý MSVT, MSCSĐG  trên địa bàn tỉnh; chủ động tham mưu, đề xuất UBND tỉnh xử lý, khắc phục các nội dung thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý.

UBND các xã, phường chủ trì rà soát, cập nhật tình hình thực tế các vùng trồng, cơ sở đóng gói được cấp mã số trên địa bàn, nhất là biến động về diện tích, chủ sở hữu, cơ cấu cây trồng và tình trạng hoạt động; phối hợp Sở NN&MT rà soát, xử lý các trường hợp dữ liệu thiếu, sai, trùng lặp hoặc mã số không còn phù hợp. 

Đồng thời, tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát việc duy trì các điều kiện của vùng trồng, cơ sở đóng gói trên địa bàn; kịp thời phát hiện xử lý các trường hợp vi phạm, gian lận hoặc sử dụng MSVT, MSCSĐG không đúng quy định...

Theo thống kê của ngành NN&MT, đến hết tháng 7-2026, toàn tỉnh có 3.594 MSVT (1.635 vùng trồng) phục vụ xuất khẩu đã được cấp, với diện tích hơn 150.417 ha. Trong đó, được nước nhập khẩu phê duyệt 3.489 mã số (1.540 vùng trồng), diện tích hơn 147.464 ha; cấp mới chờ nước nhập khẩu phê duyệt 105 mã số (95 vùng trồng) với diện tích trên 2.952 ha.

Toàn tỉnh có 534 MSCSĐG đã được nước nhập khẩu phê duyệt; 150 MSCSĐG đã kiểm tra, chờ nước nhập khẩu phê duyệt đối với các sản phẩm: Thanh long, chuối, sầu riêng, mít, dừa, dưa hấu, bưởi, nhãn, xoài và ớt.

ANH THƯ

Nguồn Đồng Tháp: https://baodongthap.vn/dong-thap-tang-cuong-cap-quan-ly-ma-so-vung-trong-ma-so-co-so-dong-goi-a244207.html