Dự án Aphrodite: Tham vọng biến pháo đài bay B-17 thành vũ khí UAV cảm tử của quân đội Mỹ
Từ mùa hè năm 1944, Không lực Lục quân Mỹ đã cải tạo máy bay B-17 thành bom bay điều khiển từ xa BQ-7 nhồi 9 tấn thuốc nổ để phá hủy các boongke kiên cố.
Vào giai đoạn cuối Thế chiến II, quân đội Mỹ đã tiên phong hiện thực hóa ý tưởng biến máy bay ném bom thành phương tiện tấn công tự sát không người lái. Thay vì chấp nhận tổn thất nhân mạng trong các đòn đánh trực diện vào hệ thống công sự kiên cố của đối phương, lực lượng Đồng minh đã tìm cách điều khiển máy bay mang thuốc nổ bằng sóng vô tuyến từ khoảng cách an toàn.
Cải tạo pháo đài bay B-17 thành vũ khí điều khiển từ xa BQ-7
Mùa hè năm 1944, quân Đồng minh đối mặt thử thách lớn khi tìm cách phá hủy các công trình quân sự ngầm của Đức Quốc Xã ở miền bắc nước Pháp. Những boongke bê tông dày nhiều mét này là nơi che chắn các trận địa vũ khí V-1, V-2 và pháo tầm xa V-3 hướng về nước Anh. Theo ghi nhận của tạp chí Air & Space Forces, chiến dịch không kích Crossbow nhằm vào các vị trí này từng tiêu tốn gần 21% nỗ lực ném bom chiến lược của phe Đồng minh nhưng bom thông thường rất khó xuyên thủng.

Boeing B-17 Flying Fortress là dòng máy bay ném bom hạng nặng bốn động cơ huyền thoại do tập đoàn Boeing phát triển cho Không lực Lục quân Hoa Kỳ (USAAF) trong Thế chiến II. Ảnh: Wikipedia
Trước tình hình đó, Tướng Carl Spaatz, chỉ huy không quân chiến lược Mỹ tại châu Âu, yêu cầu một phương án công phá đủ mạnh. Tận dụng số lượng máy bay ném bom B-17 Flying Fortress đã cũ và không còn đủ chuẩn chiến đấu tại các căn cứ ở Anh, Tướng Jimmy Doolittle thuộc Không lực số 8 đã phê duyệt dự án Aphrodite vào ngày 26/6/1944. Mục tiêu là chuyển đổi các khung thân phi cơ này thành bom bay dẫn đường.
Khoảng 25 chiếc B-17 được cấu hình lại thành định danh BQ-7. Đội ngũ kỹ thuật tháo dỡ toàn bộ súng máy, giáp bảo vệ cùng thiết bị phụ trợ để nhường chỗ cho khối thuốc nổ nặng tới 9 tấn, chủ yếu là TNT hoặc Torpex – chất nổ có uy lực mạnh hơn TNT khoảng 50%. Một số chiếc mang thêm chất cháy dạng gel. Do thực hiện nhiệm vụ một chiều, phi cơ không cần khả năng tự vệ và có thể vận hành bằng các động cơ đã qua nhiều giờ bay.
Hệ thống dẫn đường được tích hợp thiết bị vô tuyến lấy từ bom dẫn đường Azon, kết nối trực tiếp với cánh lái, cần ga và cơ cấu lái tự động. Hai camera truyền hình được gắn trên BQ-7: một camera quay trực tiếp bảng đồng hồ và chiếc còn lại hướng về phía trước. Tín hiệu hình ảnh truyền về một chiếc B-17 điều khiển bay phía sau, đồng thời có các biên đội tiêm kích bay kèm để bắn hạ BQ-7 trong trường hợp phi cơ mất lái.
Điểm hạn chế lớn nhất nằm ở giai đoạn cất cánh do hạn chế công nghệ. Mỗi chiếc BQ-7 buộc phải có kíp lái gồm một phi công và một kỹ thuật viên điều khiển máy bay rời mặt đất lên độ cao khoảng 600 m. Sau khi kích hoạt cơ chế nổ và chuyển giao quyền điều khiển cho máy bay mẹ phía sau, hai người này phải nhảy dù xuống lãnh thổ Anh.
Rào cản kỹ thuật và những vụ tai nạn thảm khốc
Ngày 4/8/1944, bốn chiếc BQ-7 đầu tiên xuất kích từ căn cứ Fersfield ở miền đông nước Anh. Ngay đợt bay đầu, một chiếc mất điều khiển khi chuyển chế độ lái, rơi xuống khu rừng gần Sudbourne (hạt Suffolk) và phát nổ, khiến phi công John Wesley Fisher Jr. thiệt mạng. Chiếc tiếp cận gần mục tiêu nhất cũng rơi cách boongke Watten khoảng 450 m, không thể vô hiệu hóa mục tiêu.

Một máy bay ném bom B-17 Flying Fortress đang bay, khoảng năm 1942 - 1943. Chiếc máy bay này sau đó được cải tạo thành BQ-7 và phóng vào một cơ sở phát triển pháo V-3 của Đức vào tháng 8/1944, nhưng cuộc tấn công không thành công. Ảnh: Không lực Lục quân Mỹ
Hai ngày sau, một chiếc BQ-7 khác mất tín hiệu điều khiển, lượn nhiều vòng trên bầu trời thị trấn Ipswich với khối thuốc nổ nguyên vẹn trước khi đâm xuống biển. Các phi vụ tiếp sau tiếp tục ghi nhận sự cố gián đoạn vô tuyến, trục trặc con quay lái tự động và camera truyền hình chất lượng quá thấp, khiến người điều khiển không thể định vị mục tiêu chính xác giữa hỏa lực phòng không đối phương.
Cùng thời điểm, Hải quân Mỹ vận hành dự án song sinh mang tên Anvil. Ngày 12/8/1944, phi công Joseph P. Kennedy Jr. (anh trai của Tổng thống tương lai John F. Kennedy) cùng Wilford John Willy lái chiếc PB4Y-1 nhồi 9,6 tấn Torpex để tấn công trận địa pháo V-3 tại Mimoyecques. Tuy nhiên, khối thuốc nổ phát nổ sớm trên không phận Blythburgh (hạt Suffolk), khiến cả hai hy sinh tại chỗ. Nguyên nhân được nhận định có thể do hệ thống điện chưa bọc cách ly kỹ kích hoạt ngòi nổ.
Sau khoảng 20 lượt xuất kích kéo dài đến tháng 1/1945 mà không ghi nhận bất kỳ mục tiêu nào bị tiêu diệt hoàn toàn, Tướng Carl Spaatz đã ra lệnh hủy bỏ hoàn toàn dự án Aphrodite do những rủi ro quá lớn về kỹ thuật.
So sánh bước tiến công nghệ từ TDR-1 tới UAV hiện đại
Song song với các dự án hoán cải máy bay cũ, Hải quân Mỹ còn thử nghiệm mẫu máy bay không người lái chuyên dụng Interstate TDR-1 hai động cơ. Người điều khiển ngồi trên máy bay TBM Avenger và theo dõi qua màn hình 5 inch nhận tín hiệu từ mũi TDR-1.

Interstate TDR là mẫu máy bay không người lái chiến đấu không người lái do Mỹ phát triển trong Thế chiến II. Ảnh: Wikipedia
Ngày 27/9/1944, biên đội TDR-1 mang bom khoảng 900 kg đã đánh trúng trận địa phòng không của quân Nhật trên một tàu buôn mắc cạn tại Bougainville. Theo thống kê của tạp chí Air & Space, trong 46 chiếc TDR-1 được triển khai, khoảng một nửa số máy bay vượt qua hành trình đã đánh trúng hoặc gây hư hại mục tiêu, chứng minh tiềm năng tác chiến thực tế hơn so với dự án BQ-7.
Hơn 80 năm sau, nguyên lý tấn công một chiều bằng phương tiện bay không người lái đã đạt độ hoàn thiện cao nhờ công nghệ viễn thông và định vị. Mẫu UAV Shahed-136 tích hợp hệ thống định vị vệ tinh và dẫn đường quán tính, hoạt động hoàn toàn tự động theo tọa độ cài sẵn mà không cần phi công phụ trách cất cánh.
Quân đội Mỹ cũng đưa vào trang bị dòng UAV cảm tử LUCAS do hãng SpektreWorks chế tạo với chi phí ước tính khoảng 35.000 USD mỗi chiếc. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) xác nhận mẫu UAV này đã tham gia thực chiến trong chiến dịch Epic Fury từ cuối tháng 2/2026. Quá trình phát triển từ BQ-7 tới các hệ thống hiện đại phản ánh bước nhảy vọt về tính tự động hóa, giải quyết triệt để rủi ro nhân mạng vốn là điểm yếu cốt tử của các dự án thử nghiệm thời Thế chiến II.

