Dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) Bảo đảm dịch vụ phổ cập, an toàn bưu gửi và quyền của người sử dụng
Phát biểu tại phiên thảo luận tổ sáng 17/10 liên quan đến dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) cho rằng việc sửa luật cần vừa tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, vừa đảm bảo dịch vụ phổ cập, an toàn bưu gửi và quyền của người sử dụng.
Rõ trách nhiệm, chi phí trong hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến
Đại biểu cho rằng, dự thảo có những định hướng tích cực, nhất là chuyển sang đăng ký và hậu kiểm, phân loại doanh nghiệp theo chức năng vận hành mạng, quản lý bưu gửi theo mức độ rủi ro và bổ sung quy định về dữ liệu bưu chính.
Tại khoản 3 Điều 23 dự thảo Luật quy định bưu gửi được coi là không có người nhận “sau thời hạn 1 tháng kể từ thời điểm xác định không phát được và không hoàn trả được”, đại biểu Trần Thị Vân đề nghị bổ sung quy định: Thời hạn áp dụng đối với trường hợp bưu gửi phải xử lý, tiêu hủy khẩn cấp theo quy định của Chính phủ.

ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ. Ảnh: H.Nga
Theo đại biểu tại điểm b khoản 1 Điều 18 dự thảo Nghị định đã cho phép doanh nghiệp lập biên bản, quyết định tiêu hủy vật phẩm, hàng hóa trong bưu gửi không phát được bị hỏng do đặc tính tự nhiên, gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường mà không bắt buộc thông qua Hội đồng. Việc bổ sung ngoại lệ ngay trong Luật sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, tránh cách hiểu phải chờ đủ 1 tháng mới được tiêu hủy, làm tăng chi phí bảo quản và nguy cơ mất an toàn; đồng thời, các điều kiện, trình tự và trách nhiệm tiêu hủy vẫn được Chính phủ quy định cụ thể theo khoản 5 Điều 23.
Liên quan đến điểm phục vụ đa năng trên mạng bưu chính công cộng (Điều 26), tại điểm a khoản 2, Dự thảo quy định điểm phục vụ đa năng thực hiện việc: “Tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính và hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến"; đồng thời, điểm b khoản 3 yêu cầu: “công khai danh mục và giá dịch vụ” thống nhất việc tận dụng mạng lưới bưu chính để đưa dịch vụ đến gần người dân, nhất là tại địa bàn khó khăn.
Đại biểu cho rằng dự thảo chưa phân định hoạt động hỗ trợ thuộc trách nhiệm phục vụ của Nhà nước với dịch vụ bổ sung có thu tiền; chưa xác định chủ thể chịu chi phí hỗ trợ, nên có thể dẫn đến cách hiểu và thực hiện khác nhau.
“Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến nhằm giảm thời gian, chi phí và tạo thuận lợi cho người dân. Trong khi đó, những người cần được hỗ trợ thường là người cao tuổi, người khuyết tật, người thiếu thiết bị hoặc kỹ năng số. Nếu các đối tượng này phải trả thêm tiền chỉ để được hướng dẫn kê khai, tải tài liệu và nộp hồ sơ, thì khó khăn về khả năng tiếp cận công nghệ sẽ chuyển thành gánh nặng tài chính. Đặc biệt, nếu việc sử dụng dịch vụ có thu tiền trở thành điều kiện trên thực tế để thực hiện thủ tục, thì mục tiêu tạo thuận lợi cho người dân sẽ không đạt được. Yêu cầu công khai giá mới giải quyết tính minh bạch, chưa giải quyết tính hợp lý của việc thu tiền và trách nhiệm bảo đảm tiếp cận dịch vụ công”, ĐBQH Trần Thị Vân nêu.
Mặt khác, cần phân biệt việc hướng dẫn, hỗ trợ cơ bản với dịch vụ tiện ích do người dân tự nguyện lựa chọn, như chuyển phát hồ sơ hoặc kết quả đến địa chỉ yêu cầu. Việc Nhà nước giao hoặc thuê doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cũng không nên mặc nhiên đồng nghĩa với việc người dân phải thanh toán chi phí cho doanh nghiệp.
Đại biểu đề nghị chỉnh lý điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 26 theo hướng bảo đảm người dân có kênh hướng dẫn, hỗ trợ cơ bản miễn phí để thực hiện dịch vụ công trực tuyến; xác định rõ phạm vi dịch vụ được thu tiền và chủ thể chịu chi phí; việc sử dụng dịch vụ có thu tiền phải trên cơ sở tự nguyện, không được đặt thành điều kiện tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
Đối với nhiệm vụ do Nhà nước giao, đặt hàng hoặc thuê doanh nghiệp thực hiện, cần xác định cơ chế thanh toán và không thu thêm của người dân đối với cùng nội dung đã được ngân sách chi trả. Đây là những nguyên tắc cần được quy định ngay trong luật để vừa phát huy mạng lưới bưu chính, vừa bảo đảm mục tiêu giảm chi phí và phục vụ người dân được tốt hơn.
Liên quan đến Điều 39 về lưu trữ và bảo vệ dữ liệu bưu chính, tại điểm d khoản 2, dự thảo quy định doanh nghiệp bưu chính thực hiện các biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại phát sinh từ sự cố dữ liệu theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quy định chưa thể hiện rõ trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại đã xảy ra do vi phạm nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu bưu chính. Trong khi đó, Điều 47 chủ yếu quy định bồi thường đối với bưu gửi bị mất, hư hỏng hoặc tráo đổi, chưa làm rõ trách nhiệm bồi thường trong trường hợp thông tin khách hàng bị rò rỉ và bị lợi dụng để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản.
Đại biểu đề nghị bổ sung tại điểm d khoản 2 Điều 39 trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu bưu chính gây ra, đồng thời bổ sung trách nhiệm bảo toàn, cung cấp thông tin, chứng cứ phục vụ xác định nguyên nhân và giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật. Rà soát Điều 47 để làm rõ các giới hạn bồi thường đối với bưu gửi bị mất, hư hỏng hoặc tráo đổi không áp dụng cho thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu.
Không để khoảng trống trách nhiệm trong bảo vệ dữ liệu
ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (Bắc Ninh) cho rằng, tại khoản 1 Điều 46 của dự thảo Luật quy định người sử dụng dịch vụ có quyền khiếu nại, kiến nghị, phản ánh về chất lượng dịch vụ, giá và việc bưu gửi bị mất, hư hỏng hoặc chậm trễ so với thời gian toàn trình đã công bố; khiếu nại, kiến nghị, phản ánh được thực hiện theo pháp luật về bưu chính và các quy định khác có liên quan.

ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà (Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: H.Nga
Theo đại biểu, quy định nêu trên đang giới hạn quyền được khiếu nại, kiến nghị, phản ánh của người tiêu dùng trong lĩnh vực bưu chính. Trên thực tế, quyền và lợi ích của người sử dụng dịch vụ có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều hành vi khác trong quá trình cung cấp dịch vụ bưu chính như việc từ chối cung cấp dịch vụ không có căn cứ, vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin, thực hiện không đúng nội dung hợp đồng...
Đồng thời, quy định này cũng chưa thống nhất với điểm c khoản 1 Điều 35 của dự thảo Luật, theo đó người sử dụng dịch vụ bưu chính có quyền khiếu nại về việc cung cấp dịch vụ bưu chính theo quy định của pháp luật. Đại biểu đề nghị chỉnh lý quy định tại khoản 1 Điều 46 theo hướng mở rộng phạm vi khiếu nại, kiến nghị, phản ánh đối với các hành vi vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ trong quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính.
Về bồi thường thiệt hại trong hoạt động bưu chính, tại khoản 3 Điều 47 của dự thảo Luật quy định: “Không bồi thường thiệt hại gián tiếp hoặc nguồn lợi không thu được do việc cung cấp dịch vụ bưu chính không bảo đảm chất lượng dịch vụ bưu chính mà doanh nghiệp đã công bố”.
Quy định nêu trên có thể dẫn đến việc hạn chế phạm vi trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ. Dự thảo Luật chưa phân định rõ trường hợp doanh nghiệp không bảo đảm chất lượng dịch vụ bưu chính do nguyên nhân khách quan với trường hợp do lỗi của doanh nghiệp; đồng thời cũng chưa làm rõ việc loại trừ trách nhiệm có áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp bưu chính có lỗi cố ý hoặc vi phạm nghĩa vụ cung cấp dịch vụ hay không.
“Như vậy, có thể dẫn đến cách hiểu doanh nghiệp bưu chính được miễn trách nhiệm bồi thường ngay cả khi thiệt hại phát sinh từ hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 585 của Bộ luật Dân sự, một trong những nguyên tắc quan trọng trong bồi thường thiệt hại là “thiệt hại thực tế phải bồi thường toàn bộ và kịp thời”. Điều 25 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng nghiêm cấm tổ chức, cá nhân kinh doanh đưa vào hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung các điều khoản hạn chế, loại trừ trách nhiệm được pháp luật quy định của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng”, ĐBQH Đỗ Thị Việt Hà nêu.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát, chỉnh lý khoản 3 Điều 47 bảo đảm thống nhất với Bộ luật Dân sự và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; bảo đảm không hạn chế bất hợp lý quyền yêu cầu bồi thường của người sử dụng dịch vụ bưu chính, bảo đảm cân bằng giữa quyền lợi của doanh nghiệp bưu chính và người sử dụng dịch vụ.

