Dự báo kinh tế toàn cầu: Căng thẳng địa chính trị kéo căng đà hồi phục

Trong tháng qua, xung đột tại Trung Đông vẫn được cho là rủi ro được nhắc tới nhiều nhất của kinh tế toàn cầu, khi làm gia tăng nguy cơ suy thoái, hoặc thậm chí là gây ra nguy cơ khủng hoảng.

Quang cảnh cảng hàng hóa tại Rio de Janeiro, Brazil. Ảnh minh họa: THX/TTXVN

Quang cảnh cảng hàng hóa tại Rio de Janeiro, Brazil. Ảnh minh họa: THX/TTXVN

Sự gián đoạn đối với thị trường năng lượng cũng như nguồn cung một số hàng hóa chủ chốt do xung đột đã thực sự làm đình trệ quá trình phục hồi của các nền kinh tế lớn trên thế giới, trong bối cảnh “đa khủng hoảng”, khi cùng lúc chịu áp lực từ lạm phát dai dẳng và nợ công cao.

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới mới nhất, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo, kịch bản xấu nhất của cuộc xung đột, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay có thể giảm tới 1,3 điểm phần trăm, mức tiệm cận với một cuộc suy thoái kinh tế. Nếu xung đột kéo dài thêm vài tuần trước khi thị trường ổn định vào giữa năm, tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay dự kiến ở mức 3,1%, thấp hơn so với con số 3,3% trong báo cáo trước đó. Mặc dù mức điều chỉnh giảm đối với năm 2026 trong kịch bản này không lớn, điều đáng chú ý là tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ được điều chỉnh tăng lên mức 3,4% nếu không xảy ra xung đột.

Trong bối cảnh đó, triển vọng tăng trưởng của thế giới còn chịu thêm áp lực từ lạm phát dai dẳng. IMF và Cơ quan Năng lượng Quốc tế, cùng với Ngân hàng Thế giới (WB) trong một tuyên bố chung đánh giá cú sốc xung đột ở Trung Đông đã dẫn đến giá dầu, khí đốt và phân bón tăng cao. Tình hình vẫn còn rất bất ổn, và hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz vẫn chưa trở lại bình thường. Ngay cả sau khi eo biển này được khơi thông, sẽ cần thời gian để nguồn cung toàn cầu của các hàng hóa chủ chốt quay trở lại mức trước xung đột - và giá nhiên liệu, phân bón có thể vẫn duy trì ở mức cao trong thời gian dài do thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng.

IMF đã nâng dự báo lạm phát toàn cầu từ 4,1% vào năm ngoái lên 4,4% trong năm nay, trong khi trước đó ước tính sẽ giảm xuống 3,8%. Trong tình huống hiện nay, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển phụ thuộc vào nhập khẩu hàng hóa sẽ đặc biệt dễ bị tổn thương. Tăng trưởng tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển tại châu Á được dự báo giảm từ mức 5,5% của năm ngoái xuống 4,9% trong năm nay.

Nếu tình trạng gián đoạn nguồn cung hiện tại tiếp diễn, giới phân tích dự báo giá dầu sẽ dao động trong khoảng 100-190 USD/thùng trong năm nay. Còn theo các công ty dầu khí nhà nước ở Kuwait và Qatar, các hoạt động quân sự đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các nhà máy lọc dầu, cảng và kho chứa dầu ở khu vực Vịnh Ba Tư, đồng nghĩa với việc nguồn cung năng lượng có thể mất nhiều tháng để trở lại mức trước đây, ngay cả khi chiến sự kết thúc.

Sự điều chỉnh giảm dự báo nêu trên đồng nghĩa sản lượng kinh tế toàn cầu có thể sụt giảm hàng nghìn tỷ USD, cản trở nỗ lực giảm nợ hậu đại dịch COVID-19 của nhiều quốc gia. Đáng chú ý, nợ công toàn cầu hiện đã chạm mốc 100.000 tỷ USD, tương đương 93% tổng GDP. Áp lực kép từ đà tăng trưởng chậm lại và nền tảng chi phí cao đang thử thách sức chịu đựng của kiến trúc tài chính quốc tế. Nguồn dự trữ ngoại hối của các quốc gia dễ bị tổn thương đang cạn kiệt nhanh, dẫn đến nhu cầu tiếp cận các nguồn tài trợ đa phương tăng đột biến.

Tổng giám đốc IMF Kristalina Georgieva (phải). Ảnh tư liệu: THX/TTXVN

Tổng giám đốc IMF Kristalina Georgieva (phải). Ảnh tư liệu: THX/TTXVN

Tổng Giám đốc IMF Kristalina Georgieva nhận định nhu cầu tài trợ khẩn cấp từ thiết chế trong thời gian tới có thể lên tới 50 tỷ USD. Trong khi đó, Chủ tịch Ajay Banga cho biết WB cần huy động 20 - 25 tỷ USD tài trợ nhanh. Tình trạng chưa từng có này đòi hỏi các định chế tài chính phải khẩn trương xem xét lại khuôn khổ an toàn vốn để kịp thời cung cấp thanh khoản, hỗ trợ các nền kinh tế đang bên bờ vực khủng hoảng tài khóa.

Tại Trung Đông, trong khi thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran đang được thực thi, eo biển Hormuz vẫn gần như bị đình trệ hoàn toàn. Theo dữ liệu theo dõi tàu thuyền từ Kpler, lưu lượng tàu qua eo khu vực này gần như bằng 0, so với mức trung bình khoảng 135 chuyến/ngày vào thời điểm trước khi xảy ra xung đột.

Các chuyên gia phân tích tại ngân hàng đầu tư Goldman Sachs ước tính sản lượng dầu thô từ các quốc gia vùng Vịnh đã giảm 57% so với mức trước khi xảy ra xung đột. Ngay cả khi eo biển Hormuz được mở lại, quá trình phục hồi có thể kéo dài nhiều tháng và chưa chắc trở về mức cũ.

Lê Minh (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/du-bao-kinh-te-toan-cau-cang-thang-dia-chinh-tri-keo-cang-da-hoi-phuc-20260430181115045.htm