Dư địa mở rộng giao thương, đầu tư Việt Nam - Israel

Với kim ngạch xuất khẩu sang Israel vượt một tỷ USD trong 10 tháng đầu năm 2026, Israel đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam, song cũng đặt ra những yêu cầu mới về khả năng tiếp cận và thích ứng.

Thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Israel, quốc gia Trung Đông hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 (sau UAE và Saudi Arabia) và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 (sau UAE, Thổ Nhĩ Kỳ và Saudi Arabia) của Việt Nam tại khu vực Tây Á - Trung Đông. Riêng 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Israel đã đạt hơn một tỷ USD, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước.

Về đầu tư, Israel hiện là nhà đầu tư lớn thứ 3 tại Việt Nam trong khu vực Trung Đông (sau UAE và Thổ Nhĩ Kỳ). Tính lũy kế đến nay, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Israel vào Việt Nam đạt khoảng 156 triệu USD với 45 dự án, tập trung vào các lĩnh vực như bất động sản, xử lý nước, công nghệ thông tin và viễn thông.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam đầu tư tại Israel với tổng vốn đăng ký trên 78 triệu USD, tập trung vào các dự án nghiên cứu công nghệ mới và đầu tư mạo hiểm.

Nhằm giúp doanh nghiệp nắm bắt nhu cầu thị trường, đồng thời nhận diện các lĩnh vực có tiềm năng xuất khẩu và hợp tác song phương, chiều 5/11, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) đã tổ chức Hội thảo “Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Israel trong bối cảnh mới”.

Tại hội thảo, từ góc độ cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại địa bàn, ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Israel đã chia sẻ những thông tin về tình hình thị trường, nhu cầu nhập khẩu, cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường này.

Những lĩnh vực xuất khẩu tiềm năng

Nói về các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng sang Israel thời gian tới, ông Hòa đã nhắc đến các nhóm hàng như thủy sản, hạt điều, giày dép...

Dẫn thông tin từ Bộ Kinh tế Israel, ông Hòa cho biết, thủy sản Việt Nam hiện chiếm 12 - 13% tổng kim ngạch nhập khẩu thủy sản của nước này. Triển vọng mở rộng thị phần còn rất lớn do nhu cầu tiêu dùng nội địa tại Israel cao trong khi năng lực đánh bắt nội địa hạn chế.

Với hạt điều, người tiêu dùng Israel rất ưa chuộng các sản phẩm của Việt Nam, chủ yếu là loại hạt điều vỏ lụa hoặc hạt điều đã bóc vỏ nhờ chất lượng bảo đảm và giá cả hợp lý.

 Israel được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng đối với nhiều nhóm hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm, thủy sản, dệt may, giày dép và hàng tiêu dùng. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN

Israel được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng đối với nhiều nhóm hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm, thủy sản, dệt may, giày dép và hàng tiêu dùng. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN

Đối với nhóm hàng giày dép các loại, Israel chủ yếu nhập khẩu thông qua kênh phân phối toàn cầu của các hãng quốc tế có thương hiệu phổ biến như Nike, Adidas - vốn là những hãng đặt hàng gia công tại các nhà máy sản xuất ở Việt Nam.

Các nhà nhập khẩu và phân phối tại Israel cũng bắt đầu có xu hướng tìm kiếm, tiếp cận trực tiếp các nhà sản xuất Việt Nam để đặt hàng gia công các mẫu mã, thương hiệu riêng của họ, tập trung vào các nhóm hàng chính như giày thể thao và giày bảo hộ lao động.

Với dệt may, ước tính cả năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường này đạt khoảng 55 triệu USD. Các nhà nhập khẩu và phân phối Israel đang tăng cường tìm kiếm, tiếp cận các nhà sản xuất Việt Nam để đặt hàng sản xuất cho thương hiệu riêng của họ với các sản phẩm như áo sơ mi, quần âu, quần áo thể thao, găng tay và túi xách.

Triển vọng hợp tác - đầu tư

Liên quan đến triển vọng hợp tác - đầu tư giữa hai bên, ông Lê Thái Hòa cho rằng, Israel sở hữu thế mạnh ở các lĩnh vực như công nghệ thông tin & phần mềm, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sinh học và y tế, công nghệ năng lượng.

Với những lợi thế này, ông Hòa nhìn nhận, hai bên có thể hợp tác trong các lĩnh như nông nghiệp công nghệ cao, khoa học công nghệ, bán dẫn, nhân lực chất lượng cao.

Theo đó, với lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, Việt Nam đang có nhu cầu về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn.

Israel lại dẫn đầu thế giới về các công nghệ tưới nhỏ giọt, cảm biến độ ẩm, nông nghiệp chính xác trong điều kiện khô hạn, cùng giải pháp tuần hoàn tái sử dụng nước.

Thứ hai là lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Việt Nam hướng tới mục tiêu phát triển khoa học công nghệ quốc gia và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh mẽ. Ngược lại, Israel giàu kinh nghiệm trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ các viện, trường đại học, đồng thời phát triển an ninh mạng và hạ tầng chính quyền số.

Thứ ba là lĩnh vực linh kiện bán dẫn và chuyển giao công nghệ. Việt Nam có nhu cầu gia tăng hàm lượng công nghệ trong sản xuất công nghiệp, nhằm tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thế mạnh của Israel lại là khả năng cung cấp các thiết bị điện tử chuyên dụng, giải pháp tự động hóa công nghiệp và linh kiện bán dẫn tiên tiến.

Thứ tư là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và kỹ thuật. Nhu cầu của Việt Nam là đào tạo nâng cao tay nghề và lao động có chuyên môn sang học tập, làm việc trong môi trường công nghệ cao.

Trong khi đó, Israel đang có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trong các lĩnh vực như xây dựng và nông nghiệp, thực hiện theo cơ chế đào tạo gắn với thực hành.

Ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Israel chia sẻ theo hình thức trực tuyến.

Ông Lê Thái Hòa, Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Israel chia sẻ theo hình thức trực tuyến.

Rào cản trong quan hệ hợp tác hai bên

Nhìn nhận về những thuận lợi trong mối quan hệ hợp tác song phương, ông Hòa đánh giá, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel (VIFTA) chính thức có hiệu lực đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu sang quốc gia này. Israel cũng có quy mô tiêu dùng khá lớn, sức mua ổn định và giá trị nhập khẩu hàng hóa hàng năm tăng mạnh.

Ở chiều ngược lại, ông Hòa cũng chỉ ra những khó khăn mà cộng đồng doanh nghiệp hai bên đang đối mặt. Tại hội thảo, ông đã nhắc đến sự khác biệt về văn hóa, tập quán kinh doanh và tư duy hợp tác. Doanh nhân Israel (đặc biệt là người Do Thái) có điểm nổi bật là đàm phán chặt chẽ, so sánh giá cả và chất lượng giữa nhiều nhà cung cấp để ép giá xuống mức thấp nhất, điều này tạo ra ít cơ hội hơn cho việc hợp tác giữa các doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực công nghệ, phía Việt Nam thường có xu hướng muốn đặt hàng trực tiếp, làm chủ công nghệ gốc theo nhu cầu cụ thể. Israel lại tiếp cận theo hướng cung cấp dịch vụ trọn gói theo dạng dự án "chìa khóa trao tay".

Một yếu tố khác là khoảng cách về quy mô và năng lực hấp thụ công nghệ. Israel sở hữu thế mạnh vượt trội về nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, cùng hệ sinh thái công nghệ kết nối trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi số và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ cao. Đây chính là rào cản chủ yếu khiến hợp tác công nghệ giữa hai nước chưa phát huy hết tiềm năng.

"Việc tiếp tục thúc đẩy hợp tác đầu tư, đưa các công nghệ mới, hiện đại của Israel vào ứng dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội lớn. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực sản xuất, tối ưu hóa chi phí và hoạt động hiệu quả hơn, mà còn tận dụng tối đa thế mạnh của cả hai để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu," ông Lê Thái Hòa nhận định.

Lê Hồng Nhung

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/du-dia-mo-rong-giao-thuong-dau-tu-viet-nam-israel-61534.html