Dự kiến liên thông hơn 400 xét nghiệm, điện quang giữa các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

Bộ Y tế đang đề xuất liên thông hơn 400 xét nghiệm hóa sinh, huyết học - truyền máu, vi sinh - ký sinh trùng, và điện quang giữa các cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Qua đó, góp phần hạn chế chỉ định thực hiện lại không cần thiết nhằm giảm phiền hà, chi phí cho người bệnh, tiết kiệm nguồn lực của xã hội...

Bác sĩ kiểm tra kết quả thăm khám của bệnh nhân. Ảnh minh họa: Tuấn Dũng.

Bác sĩ kiểm tra kết quả thăm khám của bệnh nhân. Ảnh minh họa: Tuấn Dũng.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến vào dự thảo Thông tư quy định về danh mục dịch vụ cận lâm sàng và điều kiện sử dụng kết quả khi liên thông giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Theo Bộ Y tế, dịch vụ cận lâm sàng quy định tại Thông tư này gồm danh mục dịch vụ xét nghiệm hóa sinh, huyết học - truyền máu, vi sinh – ký sinh trùng và điện quang tại các phụ lục ban hành kèm theo Thông tư.  

HƠN 400 XÉT NGHIỆM, ĐIỆN QUANG SẼ ĐƯỢC LIÊN THÔNG

Sử dụng kết quả khi liên thông quy định tại Thông tư này là việc xem xét, sử dụng lại kết quả dịch vụ cận lâm sàng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Danh mục đang được Bộ Y tế dự kiến liên thông gồm 441 xét nghiệm hóa sinh, huyết học - truyền máu, vi sinh - ký sinh trùng, và điện quang.

Trong đó, danh mục điện quang đang được đề xuất với 367 kỹ thuật điện quang được liên thông, như: Chụp X-quang sọ thẳng/nghiêng; chụp cộng hưởng từ tim sử dụng chất gắng sức đánh giá tưới máu cơ tim có tiêm thuốc tương phản; chụp cộng hưởng từ tim đánh giá các bệnh lý tim bẩm sinh có tiêm thuốc tương phản; chụp đường mật xuyên gan qua da (PTC) (72-CĐ hình ảnh); chụp MRI toàn bộ cột sống 1.5T, 3T; chụp cộng hưởng từ tim đánh giá các bệnh lý van tim (nếu có tiêm thuốc)…

Kết quả điện quang là các kết quả và dữ liệu hình ảnh được thực hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Danh mục xét nghiệm vi sinh - ký sinh trùng với 26 kỹ thuật, với thời gian sử dụng kết quả liên thông từ 48 giờ đến 30 ngày tùy kỹ thuật, bao gồm các kỹ thuật như: Vi khuẩn nuôi cấy và định danh phương pháp thông thường; vi khuẩn kháng thuốc hệ thống tự động; vi nấm kháng thuốc định lượng (MIC) (cho 1 loại kháng sinh); vi khuẩn kháng sinh phối hợp; vi nấm soi tươi; HIV khẳng định (tuân thủ theo các quy định về xét nghiệm HIV)…

Trong danh mục xét nghiệm vi sinh - ký sinh trùng, một số kỹ thuật chỉ áp dụng với kết quả dương tính.

Đối với danh mục huyết học - truyền máu, có 27 kỹ thuật với thời gian sử dụng kết quả liên thông được đề xuất từ 6 giờ đến 7 ngày tùy từng kỹ thuật.

Đơn cử kỹ thuật: Xét nghiệm tế bào trong nước dịch chẩn đoán tế bào học (não tủy, màng tim, màng phổi, màng bụng, dịch khớp, rửa phế quản…) bằng máy phân tích huyết học tự động; huyết đồ (bằng hệ thống tự động hoàn toàn); tổng phân tích tế bào máu ngoại vi bằng hệ thống tự động hoàn toàn (có nhuộm tiêu bản tự động)…

Danh mục xét nghiệm hóa sinh gồm 21 kỹ thuật như định lượng acid uric, định lượng urê máu, định lượng canxi toàn phần, định lượng cholesterol toàn phần…Thời gian sử dụng kết quả liên thông từ 24 giờ đến 60 ngày.

Thời gian sử dụng kết quả khi liên thông đối với kết quả xét nghiệm được tính từ thời điểm lấy mẫu bệnh phẩm. Đối với kết quả điện quang được tính từ thời điểm thực hiện kỹ thuật.

Theo dự thảo Thông tư, kết quả cận lâm sàng sử dụng để liên thông được thực hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng đã được cấp giấy phép hoạt động, tuân thủ theo theo hướng dẫn quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế đã ban hành, và bảo đảm chất lượng, tính chính xác, độ tin cậy, kịp thời.

Kết quả phải có đầy đủ thông tin nhận dạng người bệnh, thời gian lấy mẫu, người lấy mẫu, thời gian thực hiện và người ký thực hiện.

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm khai thác, sử dụng kết quả cận lâm sàng liên thông theo danh mục tại các phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này, khi đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nhằm hạn chế chỉ định thực hiện lại không cần thiết nhằm giảm phiền hà, chi phí cho người bệnh, tiết kiệm nguồn lực của xã hội.

Người hành nghề xem xét sử dụng kết quả khi liên thông, hoặc quyết định việc chỉ định lại theo đánh giá chuyên môn và diễn biến lâm sàng của người bệnh.

ĐẢM BẢO THỐNG NHẤT VỚI QUY ĐỊNH THANH TOÁN BẢO HIỂM Y TẾ

Góp ý vào dự thảo Thông tư, Sở Y tế Thái Nguyên cho rằng, cần đảm tính thống nhất về quy định thời gian sử dụng kết quả liên thông đối với một số xét nghiệm, với các quy định hiện hành khác liên quan đến điều kiện chỉ định, tần suất thực hiện, và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Người dân chờ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Ảnh: Thu Hằng.

Người dân chờ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Ảnh: Thu Hằng.

Theo Sở Y tế Thái Nguyên, thực tế có thể phát sinh trường hợp thời gian sử dụng kết quả liên thông theo dự thảo chưa thống nhất với thời gian, hoặc điều kiện thanh toán theo các quy định hiện hành. Điều này có thể dẫn đến khó khăn trong quá trình áp dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, công tác giám định bảo hiểm y tế, cũng như giải thích cho người bệnh.

Ví dụ, đối với xét nghiệm HbA1c, dự thảo quy định “thời gian tối đa” là 60 ngày, trong khi hiện nay quy định thanh toán bảo hiểm y tế tại Thông tư số 39/2024/TT-BYT đang áp dụng khoảng thời gian 90 ngày trong điều kiện thông thường.

Ngoài ra, đơn vị này cũng đề nghị làm rõ nguyên tắc áp dụng đối với các kết quả vi sinh âm tính. Hiện dự thảo chủ yếu quy định thời gian sử dụng đối với kết quả dương tính, trong khi chưa nêu rõ nguyên tắc liên thông đối với kết quả âm tính và trường hợp cần chỉ định lại do nghi ngờ lâm sàng.

Giải trình nội dung trên, Bộ Y tế cho biết thời gian tối đa quy định tại Thông tư là thời gian có giá trị của kết quả xét nghiệm, và để các bác sĩ lâm sàng tham khảo, kết hợp cùng diễn biến của người bệnh để quyết định có chỉ định lại hay không. Thời gian này không liên quan đến quy định thanh toán bảo hiểm.

Cũng liên quan đến cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế, Sở Y tế Quảng Ninh cũng phản ánh, thực tiễn thời gian qua, nhiều cơ sở khám chữa bệnh đã phát sinh vướng mắc trong thanh toán, giám định bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ cận lâm sàng theo các văn bản hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, như Quyết định số 2775/QĐ-BYT và Quyết định số 2776/QĐ-BYT, do phát sinh khác biệt trong cách hiểu, cách áp dụng giữa cơ sở và cơ quan Bảo hiểm xã hội.

Từ đó, đã ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện, thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Đối với các trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chỉ định thực hiện lại xét nghiệm, dịch vụ cận lâm sàng, Sở Y tế Quảng Ninh góp ý, việc xem xét thanh toán cần căn cứu đầy đủ diễn biến bệnh, yêu cầu chuyên môn, quyết định chuyên môn của bác sĩ điều trị trong từng trường hợp cụ thể…

Theo Bộ Y tế, việc sử dụng kết quả cận lâm sàng khi liên thông cần bảo đảm an toàn người bệnh, lấy người bệnh làm trung tâm. Ưu tiên sử dụng kết quả dịch vụ cận lâm sàng đã có, còn giá trị sử dụng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Qua đó, nhằm hạn chế chỉ định thực hiện lại để giảm thời gian, chi phí, tránh can thiệp không cần thiết đối với người bệnh.

Việc sử dụng kết quả dịch vụ cận lâm sàng khi liên thông phải phù hợp với tình trạng lâm sàng, thời gian thực hiện, phương pháp kỹ thuật, đặc tính các dịch vụ cận lâm sàng. Đồng thời, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu và an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, thông tin người bệnh theo quy định.

Thu Hằng

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/du-kien-lien-thong-hon-400-xet-nghiem-dien-quang-giua-cac-co-so-kham-chua-benh-bao-hiem-y-te.htm