Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi): Đánh giá tác động quốc phòng, an ninh khi xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) cần bổ sung yêu cầu đánh giá tác động đối với quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia khi đầu tư, xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng. Đồng thời, cần làm rõ vai trò của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển trong cơ chế điều phối liên ngành và trách nhiệm phối hợp của chính quyền địa phương, bảo đảm quản lý tài nguyên, không gian biển gắn với bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia.
Phát huy vai trò của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển
Biển, đảo luôn là không gian sinh tồn của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước và tương lai phát triển đất nước. Việc sửa đổi dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tổng hợp, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đáp ứng những yêu cầu cấp bách của thực tiễn.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội trường, Kỳ họp thứ Hai. Ảnh: Khánh Duy
Qua nghiên cứu Báo cáo tổng hợp ý kiến đại biểu Quốc hội thảo luận tại Tổ đối với dự án Luật, có thể thấy Văn phòng Quốc hội đã tổng hợp chi tiết, đầy đủ các ý kiến tham gia; Bộ Nông nghiệp và Môi trường tích cực, chủ động tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo trong thời gian ngắn.
Dự thảo Luật trình Quốc hội thảo luận lần này cơ bản thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển. Các quy định cũng được xây dựng theo hướng bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ với hệ thống pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.
Tuy nhiên, với vị trí là đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, lực lượng, tổ chức và cá nhân; trực tiếp tác động đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo đảm quốc phòng, an ninh gắn với phát triển bền vững kinh tế biển. Vì vậy, một số quy định cần tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, toàn diện trước khi Quốc hội xem xét, thông qua.

Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam, Thiếu tướng Lương Đình Hưng, ĐBQH tỉnh Nghệ An. Ảnh: Khánh Duy
Điều 7 dự thảo Luật quy định về cơ chế điều phối, phối hợp tập trung, liên ngành trong quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển. Để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cần nghiên cứu, quy định ngay trong Luật việc xác định các lực lượng thực thi pháp luật trên biển là thành phần tham gia cơ chế điều phối liên ngành.
Quy định này nhằm phát huy vị trí, vai trò của Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam và Kiểm ngư Việt Nam trong quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển. Đây là những lực lượng trực tiếp hiện diện trên biển, thực hiện các hoạt động theo dõi ngư trường, kiểm soát tàu thuyền, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật và giám sát khai thác thủy sản theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao; qua đó góp phần bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn trên biển.
Việc xác định rõ thành phần tham gia cơ chế điều phối liên ngành sẽ tạo cơ sở phát huy hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng trong quản lý tài nguyên, không gian biển gắn với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Quang Khánh
Đối với Điều 22 về phân định trách nhiệm quản lý không gian biển, quy định tại điểm c khoản 2 về nguyên tắc phân định trách nhiệm quản lý không ảnh hưởng đến thẩm quyền về quốc phòng, an ninh, biên giới quốc gia là phù hợp.
Tuy nhiên, để cụ thể hóa nguyên tắc này, cần nghiên cứu, bổ sung tại khoản 5 Điều 22 trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc phối hợp chặt chẽ với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam, Kiểm ngư Việt Nam và các lực lượng vũ trang nhân dân đóng quân trên địa bàn ven biển theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được pháp luật quy định.
Đề xuất này xuất phát từ đặc thù quản lý không gian biển Việt Nam, trong bối cảnh tình hình trên biển còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp, đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với các lực lượng chức năng trong quản lý tài nguyên, không gian biển và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia.

Các ĐBQH dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Khánh Duy
Việc quy định rõ trách nhiệm phối hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, không gian biển, đồng thời bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia.
Biển, đảo luôn là không gian sinh tồn của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước và tương lai phát triển đất nước.
ĐBQH LƯƠNG ĐÌNH HƯNG (Nghệ An)
Quy định chặt chẽ việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng
Điều 23 dự thảo Luật quy định về xây dựng, quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển. Để bảo đảm tính bao quát và thống nhất, cần nghiên cứu, thiết kế quy định tại điều này áp dụng cả đối với công trình lưỡng dụng, phù hợp với giải thích từ ngữ tại khoản 14 Điều 3 dự thảo Luật.

Các ĐBQH Đoàn Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ tại Kỳ họp thứ Hai. Ảnh: Khánh Duy
Theo đó, công trình lưỡng dụng là công trình phục vụ hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu về chức năng, kỹ thuật phục vụ quốc phòng, an ninh. Với tính chất đặc thù này, việc đầu tư, xây dựng công trình lưỡng dụng cần được xem xét toàn diện cả về yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, khoản 2 Điều 23 dự thảo Luật mới quy định việc đánh giá các điều kiện tự nhiên, địa chất, thủy văn, hệ sinh thái và tác động môi trường khi đầu tư, xây dựng đảo nhân tạo. Trong khi đó, yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh mới dừng ở nguyên tắc chung tại khoản 1.
Quy định như vậy chưa bảo đảm tính bao quát, đầy đủ và thống nhất trong dự thảo Luật, nhất là đối với các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và an toàn, an ninh hàng hải.
Vì vậy, cần nghiên cứu, cân nhắc bổ sung vào khoản 2 Điều 23 quy định bắt buộc đánh giá tác động đối với quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và an toàn hàng hải, an ninh hàng hải khi đầu tư, xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng.
Đồng thời, cần quy định rõ việc lấy ý kiến cơ quan quốc phòng, an ninh trước khi quyết định chủ trương đầu tư, giao hoặc cho thuê khu vực biển đối với đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng.

Quang cảnh phiên họp toàn thể của Quốc hội. Ảnh: Hồ Long
Việc bổ sung các yêu cầu này nhằm bảo đảm các yếu tố liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia được xem xét đầy đủ ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, góp phần nâng cao chất lượng quyết định đầu tư và hiệu quả quản lý nhà nước đối với tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành, làm rõ trách nhiệm phối hợp trong quản lý không gian biển và bổ sung yêu cầu đánh giá tác động đối với quốc phòng, an ninh sẽ góp phần nâng cao tính đồng bộ, khả thi của dự thảo Luật. Qua đó, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, không gian biển gắn với bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia, dân tộc.



