Đưa AI vào chuyển đổi số nông nghiệp: Từ dữ liệu đến quyết định sản xuất
Chuyển đổi số trong nông nghiệp đang chuyển từ việc số hóa sổ sách, quy trình sang xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý, sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Việc thí điểm nền tảng B.good AI cho thấy tiềm năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, IoT và dữ liệu vệ tinh vào sản xuất. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự đi vào đời sống, những vấn đề về chi phí, phương thức thu thập dữ liệu, khả năng nhân rộng và bảo mật thông tin cần được giải quyết.
Từ số hóa quy trình đến quản lý sản xuất bằng dữ liệu
Theo PGS.TS Phạm Văn Dân, Giám đốc Trung tâm Chuyển giao Công nghệ và Khuyến nông (CETDAE), trong nông nghiệp, chuyển đổi số không chỉ là đưa các quy trình, sổ sách từ phương thức thủ công lên môi trường số, mà quan trọng hơn là hình thành hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý, sản xuất, truy xuất nguồn gốc, dự báo và ra quyết định. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp hiện đại, thông minh, minh bạch, hiệu quả và bền vững.

Trong nông nghiệp, chuyển đổi số không chỉ là đưa các quy trình, sổ sách từ phương thức thủ công lên môi trường số. Ảnh: PV
Từ định hướng này, CETDAE phối hợp với Công ty SNE của Hàn Quốc triển khai thí điểm B.good AI - giải pháp chuyển đổi số cho chuỗi giá trị nông nghiệp. Nền tảng được giới thiệu là tích hợp AI, Big Data, IoT và dữ liệu vệ tinh, hướng tới kết nối dữ liệu từ nông dân, hợp tác xã, vùng sản xuất, cảm biến thời tiết, đất, nước, hình ảnh vệ tinh và vật tư nông nghiệp. Qua đó cho thấy AI có khả năng giải quyết các vấn đề thực tế của sản xuất, từ quản lý vùng sản xuất, sử dụng vật tư hiệu quả, theo dõi sinh trưởng, dự báo sản xuất đến truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.
Giới thiệu về B.good AI, ông Chang Sehun, Tổng Giám đốc Công ty SNE cho biết, nền tảng này hướng tới quản lý sản xuất dựa trên dữ liệu, kết hợp AI với các công cụ số nhằm hỗ trợ tối ưu hóa hoạt động canh tác, nâng cao chất lượng nông sản và kết nối các khâu trong chuỗi cung ứng.

Việc thí điểm nền tảng B.good AI cho thấy tiềm năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, IoT và dữ liệu vệ tinh vào sản xuất. Ảnh: PV
Nền tảng được thiết kế với các nhóm giải pháp về quản lý sản xuất, phân tích dữ liệu nông nghiệp, thương mại nông sản và kiểm tra chất lượng không phá hủy (NDT). Trong đó, dữ liệu vùng trồng có thể được quản lý trên bản đồ vệ tinh, cập nhật diện tích, loại cây trồng và các tiêu chuẩn chứng nhận.
Thông qua chỉ số hệ thống quản lý cây trồng (BBCH), hệ thống theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng, hỗ trợ xác định tiến độ phát triển và thời điểm dự kiến thu hoạch. Nhật ký canh tác số ghi nhận các hoạt động như bón phân, tưới nước, phun thuốc bảo vệ thực vật, làm cỏ... qua đó hình thành dữ liệu phục vụ quản lý quy trình, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận sản xuất.
Bên cạnh đó, AI được sử dụng để phân tích hình ảnh lá, hoa, quả nhằm hỗ trợ nhận diện dấu hiệu sâu bệnh. Tính năng AI Briefing có thể tổng hợp tình trạng trang trại và cảnh báo một số bất thường trong quá trình sản xuất. Trợ lý AI cũng được giới thiệu với khả năng tương tác, cung cấp thông tin kỹ thuật dựa trên dữ liệu của từng khu vực sản xuất.
Ở khâu sau thu hoạch, công nghệ NDT được giới thiệu có khả năng hỗ trợ đo một số chỉ tiêu như độ ngọt (Brix), độ cứng, trọng lượng, thể tích và phân hạng nông sản trước khi đóng gói. Các dữ liệu này có thể hỗ trợ doanh nghiệp thu mua đánh giá chất lượng, dự báo sản lượng và xây dựng kế hoạch logistics.
Bài toán chi phí và bảo mật dữ liệu
Bên cạnh những tiềm năng của AI, vấn đề đặt ra là làm thế nào để các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất và có thể nhân rộng. Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Xanh Việt Nam (xã Hoài Đức) Trần Kim Liên cho biết, để AI có thể phân tích, dự báo thời tiết, sâu bệnh và tình trạng đất đai, cần xác định rõ nguồn dữ liệu được khai thác từ vệ tinh hay phải lắp đặt cảm biến IoT tại vùng trồng.
Nếu phải triển khai cảm biến trên từng thửa đất, chi phí đầu tư có thể trở thành rào cản đối với hợp tác xã và nông dân. Do đó, doanh nghiệp mong muốn làm rõ phương án tối ưu chi phí thiết bị, bảo đảm tính khả thi khi triển khai trên diện rộng.

Để AI có thể phân tích, dự báo thời tiết, sâu bệnh và tình trạng đất đai, cần xác định rõ nguồn dữ liệu được khai thác từ vệ tinh hay phải lắp đặt cảm biến IoT tại vùng trồng. Ảnh: PV
Hiện, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu với diện tích từ 50 đến 100ha và Trung tâm Đổi mới sáng tạo rộng 70ha. Đây là điều kiện để phối hợp xây dựng mô hình ứng dụng B.good AI. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần có thông tin cụ thể về quy trình triển khai, phương thức phối hợp, các hạng mục hỗ trợ, thời gian thực hiện cũng như chi phí đầu tư và vận hành.
Ngoài ra, vấn đề bảo mật dữ liệu, khi thông tin về sản xuất, quy trình canh tác và hoạt động kinh doanh được đưa lên nền tảng AI, doanh nghiệp cần có cam kết rõ ràng về an toàn thông tin, quyền sở hữu, khai thác và chia sẻ dữ liệu. Việc bảo đảm dữ liệu không bị rò rỉ hoặc sử dụng ngoài phạm vi thỏa thuận là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp yên tâm ứng dụng công nghệ và mở rộng hợp tác.

AI không chỉ hỗ trợ ghi chép hay giám sát mà còn có thể trở thành công cụ giúp người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Ảnh: PV
Trao đổi về vấn đề này, Tổng Giám đốc Công ty SNE, Chang Sehun cho biết, với các doanh nghiệp lớn, B.good AI có thể thiết kế, tùy chỉnh giải pháp theo yêu cầu riêng. Sau đó, giải pháp sẽ được thử nghiệm tại trang trại hoặc vùng nguyên liệu của đối tác để đánh giá hiệu quả.
Trên cơ sở kết quả thử nghiệm, hai bên sẽ tính toán các chi phí thực tế phát sinh và thống nhất mức chi phí phù hợp. Về việc nhập dữ liệu, thao tác nhập thủ công trên điện thoại có thể gây khó khăn cho nông dân. Vì vậy, B.good AI đang phát triển tính năng nhập dữ liệu bằng giọng nói (Voice-to-Text), cho phép người sử dụng nói trực tiếp vào điện thoại để hệ thống ghi nhận và cập nhật thông tin vào nhật ký sản xuất. Tính năng này đang được hoàn thiện và dự kiến ra mắt trong thời gian tới.
Do đó, các doanh nghiệp và hợp tác xã tại Việt Nam cùng phối hợp triển khai dự án chuyển đổi số ứng dụng AI, SNE sẽ hỗ trợ thực hiện các thủ tục để đề xuất nguồn ngân sách của Chính phủ Hàn Quốc dành cho các dự án đổi mới sáng tạo. Qua đó, doanh nghiệp kỳ vọng giảm chi phí cho các đối tác Việt Nam trong giai đoạn đầu triển khai…
Khi dữ liệu sản xuất được hình thành đầy đủ và liên thông, AI không chỉ hỗ trợ ghi chép hay giám sát mà còn có thể trở thành công cụ giúp người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của chuỗi giá trị nông nghiệp.
