Đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn, hiện đại hóa nông nghiệp Hà Nội
Từ truy xuất nguồn gốc, quản lý an toàn thực phẩm đến xây dựng dữ liệu sản xuất, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tăng cường kết nối với Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2026-2030, hướng tới đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn, xây dựng nền nông nghiệp đô thị xanh, hiện đại, thông minh và có giá trị gia tăng cao.
Công nghệ đi vào từng khâu sản xuất
Khoa học, công nghệ được Hà Nội xác định là giải pháp quan trọng để đổi mới phương thức quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp. Đáng chú ý, thành phố không chỉ tập trung đưa máy móc, thiết bị vào đồng ruộng mà đang từng bước số hóa dữ liệu, kiểm soát chất lượng và kết nối sản xuất với thị trường.
Một trong những lĩnh vực được triển khai rõ nét là truy xuất nguồn gốc. Hà Nội đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản và thực phẩm vào triển khai từ năm 2018. Đến nay, hệ thống đã hướng dẫn, cấp tài khoản cho hơn 3.300 cơ sở sản xuất, kinh doanh và quản lý dữ liệu của hơn 12.300 sản phẩm được cấp mã QR truy xuất nguồn gốc. Việc ứng dụng mã QR giúp người tiêu dùng kiểm tra thông tin trước khi lựa chọn sản phẩm, đồng thời tạo áp lực để cơ sở sản xuất chuẩn hóa quy trình và minh bạch thông tin.

Khoa học, công nghệ được Hà Nội xác định là giải pháp quan trọng để đổi mới phương thức quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp. Ảnh: PV
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường cho biết, hệ thống truy xuất nguồn gốc góp phần số hóa quá trình sản xuất, chế biến và lưu thông nông sản, qua đó nâng cao tính minh bạch, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Hà Nội cũng đang chuẩn bị các điều kiện để kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Các nhóm sản phẩm ưu tiên gồm thịt lợn, thịt gà, rau và trà hoa vàng vùng Sóc Sơn. Hệ thống của thành phố được thiết kế theo hướng mở, sẵn sàng kết nối với những hệ thống dữ liệu khác, từng bước hình thành mạng lưới thông tin thống nhất.

Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý (xã Đan Phượng) là đơn vị tiên phong đưa công nghệ vào sản xuất nông nghiệp. Ảnh: PV
Từ thực tế sản xuất, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý (xã Đan Phượng) Đặng Thị Cuối cho biết, hợp tác xã đang đẩy mạnh đầu tư, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất rau hữu cơ.
Hiện, đơn vị sản xuất hơn 30 loại rau, củ chất lượng cao như cải bó xôi, rau diếp, cà chua hữu cơ, cà rốt, bí Nhật… được trồng hoàn toàn trong nhà lưới, áp dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ. Ngoài ra, hợp tác xã đã ứng dụng công nghệ số xuyên suốt các khâu từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Thông qua mã QR được tích hợp trên sản phẩm, khách hàng có thể tra cứu thông tin, nhận diện thương hiệu và từng bước tiếp cận đầy đủ hơn về nguồn gốc, quy trình sản xuất của rau.
Gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế
Để khoa học, công nghệ thực sự tạo ra giá trị, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, Hà Nội tăng cường hợp tác giữa cơ quan quản lý với các viện, trường, doanh nghiệp và hợp tác xã, qua đó rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng. Kế thừa kết quả hợp tác giai đoạn 2022-2025, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã ký kết kế hoạch phối hợp phát triển nông nghiệp Thủ đô giai đoạn 2026-2030.
Chương trình hướng tới đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ, từng bước xây dựng nền nông nghiệp đô thị xanh, sinh thái, công nghệ cao, thông minh và bền vững. Theo kế hoạch, hai bên phối hợp trên 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm: Tham mưu định hướng phát triển nông nghiệp Thủ đô; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; xúc tiến đầu tư, kết nối doanh nghiệp; nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế và chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã ký kết kế hoạch phối hợp phát triển nông nghiệp Thủ đô giai đoạn 2026-2030. Ảnh: PV
GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh triển khai Luật Thủ đô, Nghị quyết số 57-NQ/TW và yêu cầu xây dựng Hà Nội xanh, thông minh, hiện đại, hoạt động hợp tác cần tập trung vào những nhiệm vụ xuất phát từ nhu cầu thực tế của thành phố, đồng thời phát huy thế mạnh của Học viện về nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao khoa học, công nghệ.
Theo đó, khoa học, công nghệ cần được gắn với những bài toán cụ thể của sản xuất như lựa chọn giống phù hợp, nâng cao chất lượng nông sản, giảm chi phí, kiểm soát an toàn thực phẩm và thích ứng với biến đổi khí hậu. Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi giúp người sản xuất nâng năng suất, giảm chi phí, nâng chất lượng hoặc mở rộng thị trường.
Một yêu cầu khác là phát triển nguồn nhân lực. Nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần được trang bị kiến thức, kỹ năng để tiếp cận và sử dụng hiệu quả các công cụ số. Vì vậy, đào tạo, hướng dẫn và chuyển giao công nghệ phải được thực hiện đồng thời, phù hợp với điều kiện và quy mô của từng vùng sản xuất.

Người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần được trang bị kiến thức, kỹ năng để tiếp cận và sử dụng hiệu quả các công cụ số. Ảnh: PV
Bên cạnh chuyển đổi số, chương trình hợp tác giai đoạn 2026-2030 còn chú trọng phát triển nông nghiệp xanh và bền vững. Hà Nội cần rà soát hệ thống giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản; lựa chọn những giống có năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu và hiệu quả kinh tế cao, phù hợp điều kiện sản xuất và yêu cầu thích ứng biến đổi khí hậu.
Đối với thị trường carbon, thành phố cần từng bước xác định lượng phát thải, khả năng hấp thụ và tiềm năng giảm phát thải; xây dựng dữ liệu, phương pháp đo lường và kiểm chứng để tạo nền tảng tiếp cận các cơ chế liên quan đến tín chỉ carbon. Đây là hướng nghiên cứu có ý nghĩa trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp phát triển xanh.
Để khoa học, công nghệ trở thành động lực lâu dài, Hà Nội cần hình thành hệ sinh thái liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Trong đó, cơ quan quản lý kiến tạo chính sách và hạ tầng dữ liệu; viện, trường cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp tham gia đầu tư, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường; người nông dân là chủ thể trực tiếp ứng dụng.
Đặc biệt, dữ liệu sẽ trở thành nền tảng quan trọng của nông nghiệp hiện đại. Dữ liệu về đất đai, vùng sản xuất, giống, mùa vụ, quy trình canh tác, sản lượng, chất lượng và thị trường nếu được kết nối sẽ giúp nâng cao năng lực dự báo, quản lý sản xuất và tổ chức chuỗi cung ứng.
Với Hà Nội, đây cũng là hướng đi phù hợp để nâng giá trị trên từng đơn vị diện tích. Khi quỹ đất nông nghiệp chịu sức ép lớn, thành phố cần ưu tiên sản phẩm chất lượng cao, an toàn, có truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Khi quỹ đất nông nghiệp chịu sức ép lớn, thành phố cần ưu tiên sản phẩm chất lượng cao, an toàn, có truy xuất nguồn gốc. Ảnh: PV
Từ nền tảng số hóa đang được hoàn thiện cùng nguồn lực nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ, Hà Nội có điều kiện đưa khoa học, công nghệ từ những mô hình riêng lẻ trở thành động lực phát triển của toàn ngành.
Mục tiêu không chỉ là một nền nông nghiệp ứng dụng nhiều công nghệ, mà là nền nông nghiệp sản xuất dựa trên dữ liệu, quản lý bằng khoa học, vận hành theo nhu cầu thị trường và phát triển hài hòa với môi trường. Qua đó, nông nghiệp Thủ đô nâng cao giá trị, thích ứng với biến đổi khí hậu và đóng góp hiệu quả hơn vào mục tiêu xây dựng Hà Nội xanh, thông minh, hiện đại.


