ĐƯA NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG VÀO CUỘC SỐNG Dân là gốc trong Văn kiện Ðại hội XIV của Ðảng, xác lập chuẩn mực lãnh đạo mới
Ðại hội XIV của Ðảng đã rút ra 5 bài học với 5 từ khóa: kiên định, giữ vững, thực hành, bám sát và đổi mới. Bài học thứ 3 là thực hành với nội dung: triệt để 'dân là gốc'; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; lấy sự hài lòng, tín nhiệm của dân làm tiêu chí đánh giá. Với quy định này, 'dân là gốc' không chỉ là tư tưởng mà trở thành hành động, thành phương pháp lãnh đạo, thành chuẩn mực lãnh đạo mới.

Hội nghị toàn quốc Nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7-2. Ảnh: TTXVN
Nhìn lại lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc. ông cha ta đã kiên cường đối chọi với kẻ thù hung bạo gấp nhiều lần để giữ vững toàn vẹn chủ quyền quốc gia, lãnh thổ và trao truyền lại cho con cháu hôm nay. Cũng bởi hàng ngàn năm phải chống chọi với ngoại xâm đô hộ, ông cha chúng ta đã thấu hiểu chân lý đơn giản rằng: sức mạnh vĩ đại nhất là lòng dân chứ không phải ở vũ khí tối tân hay ở thành cao, hào sâu.
Đoàn kết tạo sức mạnh vĩ đại
Vì lẽ ấy, trong suốt chiều dài lịch sử - tuy cũng có lúc này, lúc khác - nhiều triều đại đã ban hành và thực thi những chính sách an dân, chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân. Trước khi qua đời, khi được vua Trần Anh Tông hỏi về kế sách giữ nước lâu dài, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã tâu với vua: “Xin bệ hạ hãy khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”.
Hiểu, chia sẻ nỗi khổ sâu sắc với nhân dân của mình, Nguyễn Trãi suốt đời tâm niệm “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Khi được giao soạn nhạc cho triều đình, Nguyễn Trãi đã tâu vua hãy thương yêu nhân dân, chăm lo cho nhân dân để “trong thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu” và ông cho rằng, đó chính là gốc của nhạc. Ở thế kỷ XIII, khi quân Mông - Nguyên làm cỏ hầu như khắp các châu lục thì nhân dân Đại Việt đã 3 lần chiến thắng đội quân hung bạo này. Tổng kết cả 3 lần chiến thắng ấy, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã đúc kết đó là chiến thắng của “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước giúp sức”. Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, chính sức mạnh vĩ đại, tinh thần đoàn kết và sự ủng hộ của nhân dân đã làm nên những chiến thắng vĩ đại ấy...
Vào ngày 27-5-2016, tại Hội nghị toàn quốc Công tác dân vận, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định bài học Dân là gốc là bài học đã được rút ra từ chiều sâu của lịch sử. Cố Tổng Bí thư cũng không quên nhắc lại “Vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức mạnh của dân quyết định; vương triều nào được lòng dân, cố kết được nhân tâm thì làm nên nghiệp lớn; trái lại, vương triều nào ngược lòng dân thì sớm muộn cũng sẽ bị thất bại”.
Mới đây, phát biểu tại Cao Bằng nhân kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam (28-1-1941 - 28-1-2026), Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa khẳng định: “Mọi việc triển khai phải lấy hiệu quả thực chất làm thước đo; lấy mức cải thiện đời sống Nhân dân làm mục tiêu; lấy niềm tin của Nhân dân làm nền tảng. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt mà chúng ta đã xác định: “vì dân mà làm, dựa vào dân mà làm, làm đến nơi đến chốn để dân được hưởng”.
Nhìn lại lịch sử, không khó để nhận ra rằng triều đại nào chăm lo cho nhân dân, được nhân dân tin yêu và ủng hộ tất sẽ vững mạnh, triều đại nào bị người dân oán ghét, mất niềm tin sẽ suy vong. Trong lịch sử Việt Nam, nhà Hồ là triều đại phong kiến đã xây dựng được đội quân đông đảo nhất, thế nhưng, đây cũng là triều đình đã để mất nước nhanh nhất bởi để mất lòng dân. Từ bài học thất bại của nhà Hồ, khi đi ngang qua cửa biển Bạch Đằng, nơi ghi dấu những chiến công lừng lẫy của ông cha thuở trước, Nguyễn Trãi đã ngậm ngùi suy tư về vận nước để rồi cảm thán mà viết ra bài Quan hải (Cửa biển) nổi tiếng với những lời từ gan ruột: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật/ Anh hùng di hận kỷ thiên niên/ …Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Họa phúc không phải chỉ ngày một ngày hai/ Anh hùng đừng để hận đến nghìn năm… Lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước).
Thỉnh thoảng, chúng ta vẫn thường nghe nói dân tin Đảng, nhưng đó là phạm trù rất rộng, người dân đánh giá Đảng thông qua những gì cụ thể mà người dân được thụ hưởng chứ không phải bằng việc bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu chính sách hay bao nhiêu thành tựu trên giấy tờ. Vì vậy, trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam trước thềm năm mới 2026, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Khát vọng “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: Người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không...”. Đó chính là thước đo cao nhất của thực hành “dân là gốc”.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc Nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Ðại hội XIV của Ðảng ngày 7-2-2026, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Ðể đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với tiến trình phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, chúng ta phải thống nhất và dứt khoát về tư duy xuyên suốt là chuyển mạnh từ “nói” sang “làm”, từ nhận thức thành hành động”. Và, quy định về việc thực hành “dân là gốc” trong Văn kiện Ðại hội XIV của Ðảng thông qua chính là biến tư tưởng thành hành động.
Lấy dân là gốc
Trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, còn trong truyền thống và mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi “dân là gốc”. Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng sức mạnh của nhân dân. Sinh thời, Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Nhân dân, trong tư tưởng của Người không phải chỉ là lực lượng của cách mạng mà đã trở thành đối tượng để ngợi ca, thành đối tượng mà Đảng, Nhà nước phải có trách nhiệm chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tự do, hạnh phúc là thước đo giá trị của độc lập dân tộc, vì vậy, phải thực hiện làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Và, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh”.
Từ tư tưởng, từ nghị quyết để đi đến hành động cần sự quyết tâm và nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị. Thế nhưng, trước hết, mỗi tổ chức Đảng và đảng viên cần thấm nhuần quan điểm “dân là gốc”. Khi thấm nhuần quan điểm này chắc chắn trong quá trình tham mưu ban hành và thực thi chính sách sẽ luôn xuất phát, đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, luôn lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội nhằm thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Những chính sách an sinh xã hội trong thời gian qua ở Việt Nam là minh chứng của việc Đảng và Nhà nước Việt Nam đang thực hiện với dòng tư duy ấy.
Từ những năm 2007, nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong bài viết Nỗi thèm khát nóng bỏng, nhà cách mạng lão thành Trần Bạch Đằng, nguyên Bí thư Thành ủy Thành phố Sài Gòn - Gia Định trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã viết sự gắn bó mật thiết giữa dân với Đảng “không chỉ vì sát dân, sát thực tế mà còn để từng người cộng sản sát với phẩm chất của mình”. Trong thực tế chắc chắn sẽ không có một chủ trương, chính sách nào có thể đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người trong xã hội, nhưng một chính đảng vì dân, một nhà nước vì dân thì các chủ trương, chính sách phải đáp ứng nhu cầu, lợi ích của đại bộ phận người dân và phải cân, đo, đong đếm được.











