Đưa sách về nông thôn, miền núi: Đừng chỉ tặng sách
Theo ông Nguyễn Thanh Hân, để phát triển văn hóa đọc tại nông thôn, miền núi hiện nay cần chuyển trọng tâm từ số lượng sách sang khả năng tiếp cận, sử dụng tri thức của người dân.

Những năm qua, việc đưa sách về nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa đã có những kết quả đáng ghi nhận. Về cơ bản, khả năng tiếp cận sách của người dân tại các khu vực này đã được cải thiện.
Tuy nhiên, nhiều bài toán mới được đặt ra. Liệu nội dung sách đã phù hợp với nhu cầu đọc, cuộc sống sinh hoạt của người dân địa phương? Không gian đọc, hoạt động khuyến đọc có được duy trì, vận hành bền vững?
Ông Nguyễn Thanh Hân - Giám đốc Trung tâm Phát triển Văn hóa đọc và Kinh tế xuất bản, Hội Xuất bản Việt Nam - đã có nhiều chia sẻ tâm huyết trước những câu hỏi này.
Cần đánh giá khả năng tiếp cận sách bằng ít nhất bốn tiêu chí
- Qua quan sát thực tế, ông đánh giá như thế nào về khả năng tiếp cận sách và thói quen đọc của trẻ em tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa ở Việt Nam?
- Khả năng tiếp cận sách của trẻ em tại nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đã có chuyển biến tích cực. Hệ thống thư viện công cộng, thư viện trường học, điểm bưu điện văn hóa xã, tủ sách cộng đồng, thư viện lưu động, ngày hội đọc sách và nhiều chương trình xã hội hóa đã đưa sách đến gần trẻ em hơn. Nhận thức của nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương về vai trò của việc đọc cũng được nâng lên. Đây là những kết quả đáng ghi nhận của quá trình triển khai Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng theo Quyết định 329/QĐ-TTg năm 2017, Luật Thư viện và các chương trình liên quan.
Tuy vậy, cần phân biệt giữa “có sách” và “có điều kiện đọc”. Khoảng cách hiện nay không chỉ nằm ở số đầu sách, mà còn ở chất lượng nội dung, mức độ phù hợp với độ tuổi, ngôn ngữ, văn hóa địa phương, thời gian mở cửa, khả năng luân chuyển sách và sự hiện diện của người hướng dẫn đọc. Có nơi đã có tủ sách nhưng sách ít được cập nhật; có nơi sách được trao tặng theo đợt nhưng thiếu người quản lý; có nơi trẻ em muốn đọc nhưng khoảng cách địa lý, giao thông, điều kiện gia đình hoặc hạn chế về kết nối số khiến việc tiếp cận không đều đặn.
Cần chuyển trọng tâm từ số lượng sách được trao tặng sang năng lực tiếp cận và sử dụng tri thức của người dân.
Thói quen đọc của trẻ em cũng chịu cạnh tranh rất mạnh từ nội dung ngắn trên nền tảng số. Công nghệ không phải là đối thủ của sách, nhưng nếu trẻ em chỉ tiếp nhận thông tin nhanh, rời rạc và thiếu hướng dẫn, năng lực đọc sâu, tập trung và phản biện có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, phát triển văn hóa đọc ngày nay phải bao gồm cả sách in, sách điện tử, sách nói và kỹ năng lựa chọn nguồn tin đáng tin cậy.
Theo tôi, cần đánh giá khả năng tiếp cận sách bằng ít nhất bốn tiêu chí: Trẻ có sách phù hợp để đọc hay không; có địa điểm và thời gian đọc hay không; có người khuyến khích, hướng dẫn hay không; và việc đọc có giúp trẻ học tập, phát triển kỹ năng, hiểu văn hóa của mình và giải quyết vấn đề trong cuộc sống hay không. Nếu chỉ đếm số cuốn sách được trao tặng thì chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả chính sách.

Ông Nguyễn Thanh Hân (hàng thứ hai, thứ ba từ trái sang) trong Tọa đàm tại Đường sách Thành phố Thủ Đức, nhân Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2025. Ảnh: NVCC.
- Theo ông, các chính sách về phát triển văn hóa đọc mới được ban hành gần đây sẽ có tác động cụ thể ra sao tới hoạt động đọc tại nông thôn, vùng sâu vùng xa?
- Chỉ thị 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới tạo ra định hướng chính trị quan trọng: Xuất bản không chỉ là hoạt động sản xuất và phát hành sách, mà gắn trực tiếp với phát triển con người, bảo đảm quyền tiếp cận tri thức và xây dựng xã hội học tập. Khi trách nhiệm được đặt rõ hơn cho cấp ủy, chính quyền, cơ quan quản lý, đơn vị xuất bản và các tổ chức liên quan, hoạt động phát triển văn hóa đọc sẽ có điều kiện chuyển từ những chương trình riêng lẻ sang nhiệm vụ thường xuyên, có mục tiêu và nguồn lực.
Một tủ sách chỉ thật sự có giá trị khi có người đọc, người hướng dẫn, hoạt động thường xuyên và cơ chế duy trì lâu dài.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/3/2027 mở ra một khung phát triển mới. Điểm tôi đặc biệt quan tâm là Luật xác định xuất bản vừa thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, vừa là ngành kinh tế công nghệ, bộ phận của công nghiệp văn hóa và hạ tầng tri thức quốc gia. Nhà nước ưu tiên đầu tư dữ liệu chuyên ngành, xuất bản điện tử, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ bản quyền, dịch thuật và phát triển văn hóa đọc, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nếu được cụ thể hóa tốt bằng nghị định, chương trình và ngân sách thực thi, những quy định này có thể “mở đường” theo năm hướng.
Thứ nhất, giảm khoảng cách địa lý bằng xuất bản điện tử, sách nói và nền tảng đọc dùng chung, đồng thời vẫn duy trì sách in tại nơi hạ tầng số còn hạn chế.
Thứ hai, thúc đẩy sản xuất nội dung phù hợp với trẻ em nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật và các nhóm có điều kiện tiếp cận đặc thù; trong đó cần chú trọng sách song ngữ, tiếng dân tộc, sách dễ đọc và định dạng tiếp cận.
Thứ ba, tạo điều kiện để địa phương đặt hàng, lựa chọn và luân chuyển xuất bản phẩm sát nhu cầu thực tế thay vì phân bổ đồng loạt.
Thứ tư, hình thành dữ liệu dùng chung để biết nơi nào thiếu sách, nhóm nào ít được phục vụ, loại nội dung nào được sử dụng hiệu quả và khoản đầu tư nào tạo ra tác động thực.
Thứ năm, bảo vệ quyền tác giả và tạo môi trường lành mạnh cho xuất bản số, qua đó khuyến khích nhà xuất bản, doanh nghiệp công nghệ và tác giả đầu tư lâu dài vào nội dung chất lượng.
Hướng dẫn hỗ trợ xây dựng tủ sách cộng đồng cho các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa thiết thực vì đưa chủ trương xuống đến mô hình triển khai cụ thể. Nhưng tủ sách không nên được hiểu đơn thuần là một chiếc tủ và một danh mục sách. Mỗi tủ sách cần có chủ thể quản lý, quy chế mượn trả, lịch hoạt động, kế hoạch luân chuyển, người hướng dẫn đọc và chỉ số đánh giá. Chính sách mới chỉ tạo ra thay đổi khi hạ tầng sách đi cùng hạ tầng con người và hạ tầng hoạt động.

Theo ông Nguyễn Thanh Hân, những chính sách mới giảm khoảng cách địa lý bằng xuất bản điện tử, sách nói và nền tảng đọc dùng chung, đồng thời vẫn duy trì sách in tại nơi hạ tầng số còn hạn chế. Ảnh: Unicef.
Cần có người làm cho "sách sống"
- Còn khoảng trống nào trong hoạt động đọc ở nông thôn, miền núi mà chính sách hiện nay chưa chạm tới, theo ông đánh giá?
- Khoảng trống lớn nhất, theo tôi, là chính sách đã quan tâm nhiều đến việc cung cấp sách nhưng chưa đồng đều trong đầu tư cho “người làm cho sách sống”. Người phụ trách thư viện hoặc tủ sách cơ sở thường kiêm nhiệm, thiếu thời gian, kỹ năng và động lực. Nếu không có người kết nối bạn đọc với sách, nhiều điểm đọc có thể hoạt động cầm chừng sau giai đoạn đầu.
Khoảng trống thứ hai là nội dung bản địa và tính bao trùm. Chúng ta còn thiếu xuất bản phẩm phù hợp với tiếng nói, văn hóa, lịch sử và tri thức bản địa của từng cộng đồng; thiếu sách song ngữ, sách nói, sách chữ lớn, sách dễ đọc và các định dạng dành cho người khuyết tật. Quyền tiếp cận tri thức chỉ đầy đủ khi người đọc có thể tiếp nhận nội dung bằng ngôn ngữ và hình thức phù hợp.
Chính sách cần chuyển từ tư duy xây dựng điểm đọc sang bảo đảm vòng đời của điểm đọc.
Khoảng trống thứ ba là nhóm trẻ ngoài trường học, trẻ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ theo cha mẹ di cư lao động và những khu dân cư phân tán. Nếu chính sách chủ yếu đi qua trường học, một bộ phận trẻ em có nguy cơ bị bỏ lại. Vì vậy cần kết nối thư viện trường học với thiết chế văn hóa cơ sở, trung tâm học tập cộng đồng và các mô hình lưu động.
Khoảng trống thứ tư là dữ liệu. Hiện chúng ta cần một cách đo thống nhất hơn về mức độ tiếp cận, tần suất đọc, chất lượng sử dụng và sự chênh lệch giữa các địa bàn. Không có dữ liệu đủ tốt thì rất khó xác định đúng nơi cần ưu tiên và đánh giá hiệu quả của đầu tư công cũng như nguồn lực xã hội.
Khoảng trống cuối cùng là tính bền vững tài chính. Nhiều chương trình làm rất tốt khâu trao tặng ban đầu nhưng chưa tính đủ chi phí cập nhật sách, vận hành địa điểm, đào tạo người phụ trách, bảo trì thiết bị và tổ chức hoạt động trong ba đến năm năm. Chính sách cần chuyển từ tư duy “xây dựng điểm đọc” sang “bảo đảm vòng đời của điểm đọc”.
“Một địa bàn, một kế hoạch, nhiều nguồn lực”
- Để chính sách được đưa vào đời sống hiệu quả hơn, để sách và không gian đọc thực sự phục vụ cuộc sống người dân, theo ông, các tổ chức, cá nhân và địa phương cần có những hỗ trợ, lưu ý gì?
- Tôi cho rằng trước hết phải bắt đầu từ nhu cầu của cộng đồng, không bắt đầu từ nguồn sách đang có. Mỗi địa phương cần khảo sát nhóm bạn đọc, độ tuổi, sinh kế, ngôn ngữ, điều kiện đi lại và hạ tầng số. Một xã nông nghiệp, một xã biên giới, một vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một địa bàn ven đô không thể sử dụng cùng một danh mục sách và cùng một cách tổ chức hoạt động.
Tiếp theo, phải xác định rõ người chịu trách nhiệm. Mỗi điểm đọc cần có một cá nhân hoặc nhóm phụ trách được đào tạo tối thiểu về quản lý sách, tổ chức hoạt động đọc, bảo vệ trẻ em và ghi nhận dữ liệu sử dụng. Có thể huy động giáo viên, cán bộ thư viện, đoàn viên, hội phụ nữ, người cao tuổi, bộ đội biên phòng, sinh viên tình nguyện hoặc người có uy tín trong cộng đồng; nhưng việc huy động phải đi kèm phân công và hỗ trợ cụ thể.
Thứ ba, cần tổ chức hoạt động quanh sách. Đọc cùng trẻ, kể chuyện, câu lạc bộ đọc, hướng dẫn tìm kiếm thông tin, cuộc thi giới thiệu sách, giờ đọc gia đình hoặc lồng ghép sách với hướng nghiệp, nông nghiệp, sức khỏe và kỹ năng sống sẽ tạo ra nhu cầu đọc thực chất. Sách phải liên hệ được với đời sống của người dân.
Mục tiêu cuối cùng là để người dân biết cách đọc, chọn được nội dung tốt và biến tri thức thành năng lực phát triển cuộc sống.
Thứ tư, cần thiết kế mô hình đa kênh. Sách in vẫn rất quan trọng, nhưng nên kết hợp thư viện lưu động, kho sách số dùng chung, mã QR, sách nói và nội dung có thể tải trước để sử dụng ngoại tuyến. Chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi tính đến thiết bị, đường truyền, chi phí dữ liệu và kỹ năng số của người sử dụng.
Cuối cùng, phải đo hiệu quả bằng sự thay đổi hành vi, không chỉ bằng số lượng đầu sách hoặc số buổi lễ. Các địa phương có thể theo dõi số người sử dụng thực tế, tỷ lệ quay lại, số lượt mượn, thời lượng hoạt động, mức độ phù hợp của sách, số hoạt động đọc và phản hồi của trẻ em, phụ huynh, giáo viên. Dữ liệu đơn giản nhưng đều đặn sẽ giúp điều chỉnh chính sách và sử dụng ngân sách minh bạch hơn.
- Từ góc nhìn của Trung tâm, làm thế nào để kết hợp chính sách hỗ trợ của Nhà nước với các nguồn lực xã hội nhằm tạo ra hệ sinh thái hoạt động đọc bền vững cho nông thôn?
- Nhà nước và nguồn lực xã hội có vai trò khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau. Nhà nước cần bảo đảm định hướng, tiêu chuẩn, hạ tầng thiết yếu, tính công bằng trong tiếp cận và ưu tiên những địa bàn thị trường khó tự đáp ứng. Doanh nghiệp, tổ chức xã hội, nhà xuất bản, quỹ cộng đồng và nhà hảo tâm có thể đóng góp nguồn sách, công nghệ, kinh phí, chuyên gia, mạng lưới tình nguyện và khả năng đổi mới mô hình. Điều quan trọng là các nguồn lực này phải được kết nối bằng một cơ chế minh bạch, dựa trên nhu cầu và có trách nhiệm giải trình.
Tôi đề xuất mô hình hợp tác theo nguyên tắc “một địa bàn, một kế hoạch, nhiều nguồn lực”. Địa phương xác định nhu cầu và đầu mối chịu trách nhiệm; đơn vị chuyên môn hỗ trợ thiết kế danh mục, đào tạo và tiêu chuẩn vận hành; doanh nghiệp hoặc nhà tài trợ lựa chọn hạng mục đồng hành; cộng đồng tham gia quản lý và phản hồi; kết quả được công khai bằng các chỉ số thống nhất. Cách làm này tránh tình trạng nhiều đơn vị cùng tặng vào một nơi trong khi nơi khác vẫn thiếu.
Nguồn lực xã hội không nên chỉ được ghi nhận bằng số tiền hoặc số sách trao tặng. Doanh nghiệp có thể nhận hỗ trợ một cụm điểm đọc trong thời hạn ba đến năm năm; nhà xuất bản có thể cung cấp gói bản quyền hoặc kho nội dung số; doanh nghiệp công nghệ phát triển giải pháp đọc ngoại tuyến và dữ liệu quản trị; trường đại học hỗ trợ tình nguyện viên và đánh giá tác động; các hội, đoàn thể tổ chức mạng lưới người hướng dẫn đọc tại địa phương.
Trung tâm Phát triển Văn hóa đọc và Kinh tế xuất bản Việt Nam có thể đóng vai trò kết nối, nghiên cứu, thử nghiệm mô hình, đào tạo người phụ trách, xây dựng bộ tiêu chí và tổng hợp dữ liệu đánh giá. Chúng tôi cho rằng mỗi chương trình nên công khai ít nhất năm nội dung: nhu cầu của địa bàn, danh mục hỗ trợ, đơn vị chịu trách nhiệm, thời gian duy trì và kết quả sử dụng. Minh bạch sẽ tạo niềm tin và giúp nguồn lực xã hội đi đúng nơi, đúng nhu cầu.
Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm thật nhiều tủ sách, mà là để trẻ em và người dân ở bất kỳ nơi đâu cũng có cơ hội đọc, biết cách đọc, lựa chọn được nội dung tốt và biến tri thức thành năng lực phát triển cuộc sống. Khi người dân địa phương cùng tham gia vận hành và thấy việc đọc đem lại giá trị thiết thực, hệ sinh thái văn hóa đọc mới có thể bền vững.
Nguồn Znews: https://znews.vn/dua-sach-ve-nong-thon-mien-nui-dung-chi-tang-sach-post1685030.html
