Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Bài toán giáo viên vẫn là nút thắt
Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học không đơn thuần là tăng thời lượng hay nâng chuẩn dạy học ngoại ngữ. Đó là một quá trình chuyển đổi từ “học tiếng Anh” sang “dùng tiếng Anh để học”, đòi hỏi nguồn giáo viên đủ năng lực, môi trường sử dụng thực chất và chính sách đủ linh hoạt để không làm gia tăng khoảng cách cơ hội giáo dục.
Từ học tiếng Anh sang dùng tiếng Anh để học
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân -Thạc sĩ Giáo dục, Chuyên ngành giáo dục STEM, Đại học Giáo dục, Mỹ đồng tình với chủ trương từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đây là hướng đi nhiều nước đã thực hiện từ lâu.
Điều quan trọng nhất, theo bà Ngân: "Trong nhiều năm, chúng ta đã đầu tư rất nhiều cho việc dạy và học tiếng Anh. Tuy nhiên, phần lớn học sinh vẫn đang học tiếng Anh như một môn học: học từ vựng, ngữ pháp, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và thi lấy chứng chỉ. Nếu muốn tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai, chúng ta phải đi thêm một bước: từ học tiếng Anh sang dùng tiếng Anh để học".

Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân.
Điều đó có nghĩa là học sinh không chỉ giao tiếp được bằng tiếng Anh mà còn có thể dùng tiếng Anh để học Toán, Khoa học và một số môn học phù hợp; đọc sách và tài liệu; tìm kiếm thông tin; trao đổi, đặt câu hỏi và trình bày suy nghĩ của mình. Quá trình này cần được xây dựng từng bước từ mầm non đến THPT, phù hợp với sự phát triển ngôn ngữ và nhận thức của trẻ.
Nhà nghiên cứu giáo dục Nguyễn Quốc Vương cho rằng, dạy ngôn ngữ nào thì quan trọng là phải tạo ra môi trường, hệ sinh thái cho học sinh học rồi dùng được ngay trong môi trường đó. Học phải chú trọng và dùng có hiệu quả điều đã học thay vì "học để thi".
Nêu quan điểm về vấn đề này, ông Nguyễn Trần Bình An - Thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học Ứng dụng tại Đại học York, Vương Quốc Anh cho rằng, nếu đặt chủ trương này trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia, việc coi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai có cơ sở tương đối rõ ràng và phù hợp với mục tiêu quốc gia.
Một lực lượng lao động muốn làm chủ các công nghệ tiên tiến khó có thể chỉ dựa vào nguồn tri thức trong nước. Trong môi trường làm việc toàn cầu, năng lực tiếng Anh đồng thời tạo điều kiện để người lao động giao tiếp với đối tác quốc tế, tiếp cận công nghệ mới và tham gia vào các cộng đồng chuyên môn xuyên biên giới.
Tuy nhiên, theo ông An, chính sách kể trên cũng tồn tại một số thách thức và nếu không được quan tâm và giải quyết, những hệ quả ngoài dự kiến hoàn toàn có thể xuất hiện.
Thách thức đầu tiên nằm ở chính đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Tiếng Việt giữ vai trò ngôn ngữ quốc gia, trong khi nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn sử dụng các ngôn ngữ của cộng đồng mình trong đời sống. Vì vậy, bài toán đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn giản chỉ là bài toán giữa tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối với một học sinh dân tộc thiểu số, quá trình phát triển năng lực ngôn ngữ có thể liên quan đến ít nhất ba tầng: ngôn ngữ của cộng đồng, tiếng Việt với tư cách ngôn ngữ quốc gia và tiếng Anh với tư cách ngôn ngữ quốc tế. Nếu chính sách chỉ đơn giản đặt tiếng Anh vào vị trí ưu tiên mà không bảo đảm nền tảng tiếng Việt vững chắc, câu hỏi về khả năng tiếp cận giáo dục và hòa nhập xã hội sẽ trở nên đặc biệt đáng lưu tâm.
Đặc biệt, nếu việc triển khai chính sách chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn, nơi có điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên tốt hơn, khoảng cách giữa học sinh thành thị và học sinh ở vùng trung du, miền núi có thể tiếp tục gia tăng. Khi đó, một chính sách được thiết kế nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia lại có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp cận nguồn lực giáo dục.
Do đó, một chính sách ngoại ngữ tốt phải đồng thời giải quyết được hai yêu cầu: mở rộng khả năng kết nối quốc tế và bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục công bằng cho những cộng đồng có điều kiện ngôn ngữ khác nhau.

Ông Nguyễn Trần Bình An - Thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học Ứng dụng tại Đại học York, Vương Quốc Anh cho rằng, quan trọng nhất ai sẽ thực hiện chính sách. Ảnh: NVCC
Nguồn giáo viên từ đâu?
Từ thực tế đó, Bà Nguyễn Thị Kim Ngân -Thạc sĩ Giáo dục, Chuyên ngành giáo dục STEM, Đại học Giáo dục, Mỹ cho rằng để đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trên diện rộng, chúng ta đang có nhiều vấn đề lớn cần giải quyết.
Theo bà Ngân, đây có lẽ là bài toán khó nhất. Giáo viên muốn dạy một môn học bằng tiếng Anh cần có đủ ba năng lực: tiếng Anh, kiến thức môn học và phương pháp giảng dạy môn học đó bằng tiếng Anh. Ba yếu tố này không thể thay thế cho nhau. Giỏi tiếng Anh chưa có nghĩa là có thể dạy Khoa học hay Toán bằng tiếng Anh.
Ngược lại, một giáo viên giỏi Toán hoặc Khoa học nhưng năng lực tiếng Anh hạn chế cũng khó tổ chức một giờ học hiệu quả bằng tiếng Anh. Quan trọng hơn, giáo viên phải biết cách giúp học sinh vừa hiểu kiến thức, vừa hiểu ngôn ngữ được sử dụng để truyền tải kiến thức đó. Vì vậy, đây không đơn giản là lấy một bài học bằng tiếng Việt rồi chuyển sang tiếng Anh.
Chung quan điểm với bà Ngân về chất lượng giáo viên khi sử dụng tiếng Anh để giảng dạy, ông Nguyễn Trần Bình An đặt thêm câu hỏi: ngay cả khi thống nhất về mục tiêu, điều quan trọng hơn vẫn là: ai sẽ thực hiện chính sách?
Theo ông An, các chương trình đào tạo giáo viên hiện đã bắt đầu xuất hiện những hướng đào tạo liên ngành như sư phạm Toán - tiếng Anh. Tuy nhiên, số lượng giáo viên có đủ năng lực để giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh vẫn chưa thể đáp ứng ngay nhu cầu trên quy mô toàn quốc.
Vị thạc sĩ này cho rằng, đối với đội ngũ giáo viên đang công tác, thách thức còn lớn hơn. Việc yêu cầu một giáo viên đã quen với việc giảng dạy bằng tiếng Việt chuyển sang giảng dạy bằng tiếng Anh không thể được giải quyết chỉ bằng những khóa bồi dưỡng ngắn hạn.
Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh cho biết, Nghị quyết số 71-NQ/TW đã nêu chủ trương, lộ trình từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và Chính phủ đã phê duyệt Đề án triển khai giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Theo Thứ trưởng, để hiện thực hóa mục tiêu này trên quy mô quốc gia, cần tập trung triển khai có hệ thống, hiệu quả các nhiệm vụ từ nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên; phát triển môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học. Đồng thời, cần bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng giữa các vùng, miền; ứng dụng hiệu quả công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong dạy - học và nghiên cứu, thực hành ngôn ngữ và có lộ trình, tiêu chí đo lường phù hợp để đạt được kết quả thực chất.
