Dụng cụ bếp và triết lý sống của núi rừng

Từ những ống lồ ô, tấm lá chuối đến vỏ bầu khô, dụng cụ ẩm thực của đồng bào miền núi xứ Quảng ngoài phục vụ bữa ăn còn phản ánh sâu sắc triết lý sống dựa vào núi, vào rừng.

Người Bh'noong thường dùng ống tre nhỏ để làm ly uống nước. Ảnh: Tư liệu

Người Bh'noong thường dùng ống tre nhỏ để làm ly uống nước. Ảnh: Tư liệu

Dựa vào núi, vào rừng

Men theo những con đường quanh co dẫn lên vùng núi cao Quảng Nam, nơi gian bếp của người đồng bào luôn đỏ lửa, dễ dàng nhận ra, ở đó, món ăn hiện hữu trong từng dụng cụ thô mộc, đơn sơ.

Ngày chị Hiên Hên (xã La Dêê), người dân tộc Tà Riêng lấy chồng, gia đình chị gùi về từng bó lá chuối rừng, chọn những ống lồ ô thẳng, đẹp, chẻ sẵn những thanh tre làm đũa. Trong căn nhà sàn đơn sơ, mâm cưới được bày ra trên những tấm nia tre lớn, lót lá xanh mướt. Thịt nướng, cơm lam, rau rừng, bánh sừng trâu…, tất cả đều mang hương vị của núi rừng và của dụng cụ đã làm nên những món ăn đặc trưng.

Chị Hên kể, đám cưới của chị tổ chức giữa những ngày đông lạnh giá nên trên mâm cỗ không thể thiếu món ếch nấu lồ ô. Đây là thời điểm ếch rừng sinh sôi. Trong điều kiện thiếu thốn, gia đình chị tận dụng những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên

như ếch, lồ ô, tiêu, lá rừng để chế biến món ăn.

Quy trình chế biến không quá cầu kỳ, chỉ cần chọn đúng loại lồ ô vừa phải, không quá non cũng không quá già để nước vừa sôi là ếch vừa chín tới nhằm giữ độ ngọt ngon.

Lồ ô sau khi chặt thành từng đốt sẽ làm sạch, để ráo nước. Ếch được nêm với tiêu rừng giã nhuyễn, muối, củ kiệu thái nhỏ, bí xanh bào mịn và một ít rau rừng. Tất cả trộn đều, nhồi vào ống lồ ô, rồi dùng lá chuối bịt kín miệng ống.

Ống lồ ô đặt lên bếp than hồng theo hướng nghiêng khoảng 45 độ so với mặt bếp, liên tục xoay để thịt ếch chín đều mà không bị khét. Thời gian nướng kéo dài từ 25 đến 30 phút, tùy vào độ dày của ống và lượng nguyên liệu bên trong.

“Ếch nấu lồ ô là món ăn gắn bó với đồng bào dân tộc Tà Riềng nên nhất định phải có trong ngày cưới của tôi”, chị Hên cười, nói.

Trong khi đó, ở vùng cao xã Phước Năng, người Bh’noong vẫn quen dùng những ống tre nhỏ làm ly uống nước, dùng quả bầu khô làm dụng cụ đựng rượu. Dịp lễ hội, bên ché rượu cần đặt giữa nhà, những cần hút bằng tre được cắm đều quanh miệng ché, như một vòng kết nối cộng đồng.

Triết lý sống từ những dụng cụ giản dị

TS Trần Tấn Vịnh, công tác tại Trường Đại học Đông Á cho biết, quá trình nghiên cứu về dụng cụ ẩm thực các dân tộc miền núi xứ Quảng, ông nhận thấy trong đời sống của người Cơ Tu, Ca Dong, Xê Đăng, Co, Bh’noong…, người dân thường sử dụng vỏ bầu, mâm mây, khay tre, ống tre, nứa, lồ ô… Trong đó, vỏ bầu là vật dụng phổ biến nhất để chứa đựng, bày dọn thức ăn, đồ uống của hầu hết tộc người miền núi. Nhẹ, bền, dễ mang theo và thường có sẵn trong vườn nhà, trên rẫy.

Quả bầu khô được đồng bào tận dụng linh hoạt vào nhiều mục đích khác nhau. Khi quả bầu già, họ cắt xuống mang ngâm vào nước cho đến khi hạt bong ra. Sau đó, cắt cuống bầu, làm sạch ruột và treo vỏ bầu lên giàn bếp cho khô và có màu đen bóng hoặc vàng nâu mới chế tác thành các đồ dùng sinh hoạt, sản xuất.

“Đồng bào lấy quả bầu khô để đựng nước uống, cắt vát làm tô, chén ăn cơm hay đựng cháo chua, đựng gạo, hạt giống, làm chõ hong xôi, làm môi múc canh. Ở nhiều tộc người, vỏ bầu đựng nước, chứa rượu trong các lễ nghi cúng thần còn được chạm khắc hoa văn, thắt, buộc bằng dây mây, tre làm cho vật dụng này thêm nét duyên dáng”, TS Trần Tấn Vịnh phân tích.

Với hầu hết người đồng bào dân tộc thiểu số, việc đi rừng, đi rẫy không thể mang theo quá nhiều vật dụng. Vì thế, trong hành trang của họ thường chỉ có cơm nắm và ít muối rang. Nếu đó là chuyến đi kéo dài vài ngày, thì có thêm ít gạo và một con dao nhỏ.

Mỗi bữa ăn, họ sẽ tìm ống tre, rau rừng, búp chuối non ngay ven suối, ven rẫy để chế biến. Chỉ với con dao nhỏ, vài đoạn tre tươi vừa chặt, người đi rừng đã có thể dựng bếp thô sơ giữa đại ngàn.

Gạo vo sạch, cho vào ống tre, bịt kín bằng lá chuối rừng rồi đặt lên than hồng. Rau rừng hái về chỉ cần rửa qua suối, cho vào ống khác nấu cùng chút muối là thành món canh thanh mát. Có khi bắt được cá suối, họ xiên vào que tre, nướng trên lửa, mỡ cá chảy xèo xèo, tỏa mùi thơm quyện với khói rừng.

Có lẽ, chính sự chủ động, linh hoạt ấy đã hình thành nên thói quen dựa vào núi, vào rừng. Ăn xong thì bỏ lại cho rừng, không mang gì về, để mọi thứ trở lại với đất. Những ống tre cháy xém, những tấm lá đã dùng qua rồi sẽ mục đi, hòa vào đất. Không rác thải, không dư thừa, vòng tuần hoàn ấy cứ lặng lẽ diễn ra từ đời này sang đời khác.

Nhiều ý kiến cho rằng, dụng cụ ẩm thực của người đồng bào không mang tính tích trữ, mà mang tính tái tạo, tuần hoàn. Hôm nay dùng ống tre này, ngày mai lại chặt ống khác; hôm nay gói bằng lá này, ngày mai lại tìm lá khác. Mỗi lần sử dụng là một lần làm mới, nhưng không làm mất đi giá trị, mà ngược lại càng khẳng định sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên…

HUỲNH LÊ

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dung-cu-bep-va-triet-ly-song-cua-nui-rung-3333161.html