Đường biên xanh đại dương và cuộc hồi sinh những 'vùng đất chết'

Dọc bờ biển Việt Nam, những cánh rừng ngập mặn đang xanh trở lại, biến các bãi bồi hoang hóa thành 'bể hấp thụ các-bon' và mở ra sinh kế bền vững cho người dân.

Những lòng đầm yếm khí

Dưới những tán rừng ngập mặn đang xanh trở lại dọc bờ biển Việt Nam, một cuộc cách mạng thuận tự nhiên đang diễn ra mạnh mẽ, biến những bãi bồi hoang hóa thành những "bể hấp thụ các-bon" khổng lồ và mở ra sinh kế bền vững cho người dân.

Những cơn gió mang theo vị mặn mòi của biển thổi qua các triền đê xanh ngắt. Nhưng cách đây chưa đầy nửa thập kỷ, những dải bờ biển ngập mặn tại duyên hải miền Trung và miền Nam từng là những “vùng đất chết”.

Rừng ngập mặn được ví như bức tường xanh chống biến đổi khí hậu. Ảnh: Nongnghiephuuco

Rừng ngập mặn được ví như bức tường xanh chống biến đổi khí hậu. Ảnh: Nongnghiephuuco

Cây đước, cây mắm chết rụi do làn sóng chuyển đổi sang nuôi tôm tự phát. Những đầm tôm bỏ hoang sau vài vụ dịch bệnh trở thành những vùng sình lầy quanh năm yếm khí, trở thành nguồn phát thải khí mê-tan lên bầu khí quyển. Nhưng hôm nay, không còn những gam màu xám xịt của sự tàn phá mà một cuộc hồi sinh đang hiện diện dọc các cửa biển, nơi tư duy của con người đã tìm được tiếng nói chung với quy luật của tự nhiên.

Ít ai biết rằng, phía sau vẻ yên bình của những bãi bùn ngập nước quanh năm là một chu trình đáng báo động. Khi rừng ngập mặn bị tàn phá hoặc bị bao vây làm đầm nuôi hải sản, dòng chảy tự nhiên bị chặn đứng. Lớp lá rụng, xác bã thực vật và chất thải hữu cơ từ các ao nuôi tôm bị kẹt lại, chìm sâu xuống đáy bùn. Thiếu dòng thủy triều lưu thông để mang theo oxy, môi trường nhanh chóng rơi vào trạng thái yếm khí là môi trường lý tưởng cho các quần thể vi khuẩn sinh mê-tan hoạt động.

Chúng phân hủy các hợp chất hữu cơ tích tụ và giải phóng ra khí mê-tan. Tuy nhiên, khi rừng ngập mặn được phục hồi, dòng chảy của thủy triều được khơi thông, oxy từ khí quyển sẽ theo nước biển khuếch tán sâu vào lòng đất bãi bồi. Sự xuất hiện của oxy sẽ ức chế vi khuẩn sinh mê-tan, đồng thời kích hoạt nhóm vi khuẩn oxy hóa mê-tan phát triển để triệt tiêu loại khí này ngay từ trong lòng đất.

Ông Nguyễn Đức Vụ - Phó Trưởng phòng Quản lý rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học - Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa cho biết: “Vai trò của rừng ngập mặn đã được chứng minh qua thực tế, nhất là những năm gần đây trước những biến đổi của khí hậu. Bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn chính là bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ những tác động của thiên tai. Ngành lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa rất chú trọng trồng mới, trồng bổ sung diện tích rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, cũng phát huy vai trò của cộng đồng, triển khai phương án quản lý rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng”.

Thực tế chứng minh, một héc-ta rừng ngập mặn được phục hồi nguyên vẹn có thể lưu trữ lượng các-bon gấp năm lần so với một khu rừng có diện tích tương đương trên đất liền. Khi hệ sinh thái hồi sinh, "bộ lọc sinh học" này vận hành tự động, biến những vùng bãi bồi ven biển từ nơi phát thải thành lá chắn xanh bảo vệ khí quyển.

Sau khi thủy triều rút, bên dưới tán rừng ngập mặn người dân sẽ đi thu hoạch các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao. Ảnh: Nongnghiephuuco

Sau khi thủy triều rút, bên dưới tán rừng ngập mặn người dân sẽ đi thu hoạch các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao. Ảnh: Nongnghiephuuco

Sinh kế hồi sinh từ những dòng thủy triều

Hành trình đưa những mầm đước, mắm trở lại lòng đất bùn không phải là con đường trải hoa hồng, mà đó là cuộc chiến của những người chọn cách gắn bó đời mình với vị mặn của biển.

Tại vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn - Ninh Bình, ông Nguyễn Văn Tiến, một người có hơn 20 năm kinh nghiệm trồng và bảo vệ rừng ngập mặn, chia sẻ về quả ngọt sau nhiều năm bám biển: “Mấy năm trước, khi bắt tay vào phục hồi các khu vực đầm bãi suy thoái, bùn đất ở đây ngập nước quanh năm, ngạt oxy nên cây non xuống là chết sạch. Tôi và bà con phải theo con nước, ban đêm lội bùn xẻ rãnh để tạo dòng lưu thông cho thủy triều vào ra, thau rửa bãi bồi để đưa oxy xuống đất. Khi đất được làm sạch và đón được hơi oxy, mầm cây mới chịu bám rễ. Giờ nhìn thảm rừng đước, rừng vẹt khép tán xanh rì, đất chặt lại, chim muông, tôm cá tự nhiên kéo về trú ngụ, chúng tôi mừng rơi nước mắt. Không còn mùi hôi của bùn thối ngày xưa nữa, không khí vùng biển giờ trong lành, mát mẻ hẳn ra”.

Sự kiên trì của những người nông dân như ông Tiến đã chứng minh: Khi con người biết nương theo tự nhiên, chủ động tạo điều kiện cho hệ sinh thái tự chữa lành, thì chính tự nhiên sẽ trả lại những giá trị vô giá cho môi trường và cuộc sống.

Sự hồi sinh của rừng ngập mặn không chỉ có ý nghĩa về mặt chỉ số môi trường, mà còn tái cấu trúc lại nền kinh tế của các dải đất ven biển thông qua các mô hình đồng quản lý. Chuyển đổi tư duy từ “đánh đổi rừng lấy kinh tế” sang “phát triển kinh tế dưới tán rừng” đang là chìa khóa tháo gỡ bài toán sinh kế cho hàng triệu hộ dân.

Ngược dòng vào phương Nam, tại huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), ông Lâm Thành Đạt, một hộ dân đang trực tiếp canh tác mô hình tôm - rừng bền vững, phấn khởi chia sẻ về sự thay đổi này: “Trước đây, vì cái lợi trước mắt, tụi tôi phá sạch rừng để làm đầm nuôi tôm công nghiệp. Được vài vụ đầu trúng đậm, mấy vụ sau đất suy kiệt, ô nhiễm, tôm chết hàng loạt, nợ nần chồng chất. Từ ngày được hướng dẫn phá bờ đầm, trồng lại cây đước để đạt tỷ lệ 60% rừng và 40% diện tích mặt nước, cuộc sống mới thực sự ổn định. Con tôm sinh trưởng tự nhiên dưới tán rừng, ăn bã hữu cơ sạch và lá đước rụng nên thịt chắc, không bị bệnh tật. Chi phí đầu vào gần như bằng không vì không phải mua hóa chất, thuốc men gì cả. Năng suất tôm rừng rất ổn định, lại được các công ty xuất khẩu bao tiêu với giá cao hơn thị trường 20% vì đạt chứng nhận sinh thái. Ngoài tôm, tôi còn thu hoạch thêm cua biển, cá thòi lòi dưới tán rừng. Rừng xanh lại, không những che chở cho xóm làng trước gió bão, mà còn nuôi sống gia đình tôi một cách bền vững.”

Mô hình kinh tế tuần hoàn dưới tán rừng ngập mặn như gia đình ông Đạt đang tạo ra hiệu ứng domino tích cực dọc khắp các tỉnh duyên hải. Sự kết hợp hài hòa này phá vỡ thế bế tắc giữa phát triển kinh tế và bảo tồn môi trường, biến người nông dân từ thế đối đầu trở thành những người bảo vệ rừng tự nguyện và trách nhiệm nhất.

Phương trình phát triển xanh của tương lai

Những số liệu thực chứng và thực tiễn sinh kế của ông Tiến, ông Đạt đã khẳng định: Giảm phát thải khí nhà kính không phải là đánh đổi kinh tế lấy môi trường, mà là một phương trình mang lại lợi ích vững chắc.

Thách thức hiện tại không chỉ ở nhận thức của người dân, mà là câu chuyện quy hoạch vĩ mô. Ngành nông nghiệp và môi trường cần tiếp tục đồng bộ hóa quy trình quản lý dòng chảy thủy lợi ven biển, xây dựng các cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái rừng và hoàn thiện hệ thống Đo lường, Báo cáo và Thẩm định/Xác minh MRV để tiến tới thương mại hóa tín chỉ các-bon rừng ngập mặn trên thị trường quốc tế.

Khi những đường biên xanh của đại dương được nối liền và bảo vệ hạt gạo, con tôm của Việt Nam sẽ tự tin bước ra thế giới với chứng nhận "xanh". Đó không chỉ là lời giải cho các cam kết quốc tế, mà chính là tấm lá chắn, bảo vệ trọn vẹn sinh kế của hàng triệu hộ dân trước làn sóng biến đổi khí hậu khốc liệt đang hiện hữu mỗi ngày.

Mô hình kinh tế tuần hoàn dưới tán rừng ngập mặn đang tạo ra hiệu ứng domino tích cực dọc khắp các tỉnh duyên hải. Sự kết hợp hài hòa này phá vỡ thế bế tắc giữa phát triển kinh tế và bảo tồn môi trường, biến người nông dân từ thế đối đầu trở thành những người bảo vệ rừng tự nguyện và trách nhiệm nhất.

Nguyễn Long

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/duong-bien-xanh-dai-duong-va-cuoc-hoi-sinh-nhung-vung-dat-chet-461229.html