Dương Văn Dương - Từ thủ lĩnh Bình Xuyên đến vị tướng của cách mạng

Từ thời sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tôi thường cùng bạn bè lang thang khắp Nam Bộ. Kênh đào Dương Văn Dương ở Đồng Tháp Mười là một trong những điểm đến hấp dẫn. Vào những năm đầu thập niên 1990, hai bên dòng kênh này vẫn còn hoang hóa, dân cư thưa thớt, cây cỏ um tùm. Đi xuồng trên dòng nước trong xanh, nghe những câu chuyện về vị tướng giang hồ hảo hán Dương Văn Dương thật thú vị.

Sau này về định cư ở quận Tân Phú, nhà tôi nằm trên đường Đoàn Giỏi gần đường Dương Văn Dương. Hai con đường ngắn vài trăm mét này xuất phát từ hai con hẻm lớn mở rộng. Cùng tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, nếu như Đoàn Giỏi về sau trở thành nhà văn nổi tiếng, tập kết ra Bắc rồi trở về Nam khi nước nhà thống nhất, thì thủ lĩnh lực lượng Bình Xuyên lừng lẫy Dương Văn Dương đã sớm ngã xuống trên chiến trường, trở thành vị tướng đầu tiên người Nam Bộ được truy phong.

Trong tâm khảm của những người tham gia kháng chiến ở Sài Gòn và Nam Bộ, tên tuổi Dương Văn Dương là một huyền thoại. Chẳng những các tướng lĩnh mà các nhà văn từng tham gia, hiểu biết về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ cũng luôn tôn vinh ông.

Tuổi thơ mồ côi đến con đường cách mạng

Dương Văn Dương, thường được gọi thân mật Ba Dương, sinh năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo. Ông vốn họ Ngô, sau do cha bị bệnh mất sớm nên ông đổi sang họ mẹ, khi mới ba tháng tuổi.

Bấy giờ, vì hoàn cảnh gia đình quá nghèo, anh em ông sớm phải nghỉ học ở trường. Ba Dương tự lăn lộn kiếm sống, nuôi một bầy vịt mấy nghìn con, lùa qua các cánh đồng lúa chín vừa gặt xong từ Nhà Bè, Cần Giờ qua Cần Giuộc, Cần Đước, rồi Vàm Láng… để chúng ăn lúa rơi vãi. Vốn mê võ nghệ, ông nghe ở đâu có thầy giỏi võ là tìm tới thọ giáo, vừa học ông vừa nghiên cứu và luyện thêm những chiêu thức. Sau này, ông mở lò dạy võ cho con em nhà nghèo, uy danh nổi khắp giới giang hồ Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam Kỳ. Ông chủ trương và chỉ bảo đàn em làm ăn lương thiện, bênh vực người yếu thế, giúp đỡ người nghèo. Vì vậy, dù là tay “anh chị” giang hồ cộm cán, nhưng Ba Dương được coi là một người dễ gần, thân thiện, có mối giao du rộng rãi và giàu lòng vị tha, nhân ái.

Theo lời kể của nhà văn Nguyên Hùng, thuở Dương Văn Dương mới vào đời xuôi ngược sông rạch phố chợ làm đủ nghề kiếm sống, võ nghệ chưa có gì, nhưng bản tính rất gan dạ nghĩa hiệp chẳng biết sợ ai. Khi đã chinh phục giới giang hồ nghĩa hiệp, tập hợp lực lượng, Dương Văn Dương trở thành chỉ huy lực lượng Bình Xuyên đánh Pháp tái xâm lược. Để có lương thực thực phẩm nuôi quân, ông phải huy động mọi nguồn lực, vận động những người giàu có lẫn “đại ca” thế lực ngầm.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại và bị khủng bố trắng. Giặc Pháp truy lùng, đàn áp khốc liệt. Dương Văn Dương bị bắt giam hai lần vào năm 1941. Thời gian ở trong tù, Dương Văn Dương có dịp tiếp xúc với các bạn tù chính trị cách mạng. Quý mến, cảm phục bản lĩnh, nhân cách, tinh thần vì đại cục của họ, nên ông chủ động làm quen và dần được họ cảm hóa, thức tỉnh lòng yêu nước thương nòi trước họa ngoại xâm.

Thoát khỏi tù ngục, nhằm tránh sự theo dõi của chính quyền thực dân, Dương Văn Dương đi lánh mặt tận vùng biên giới Việt Nam - Campuchia. Ông tiếp tục rèn luyện võ nghệ, tìm hiểu thuốc Nam chữa bệnh do bị tra tấn. Sang đầu năm 1943, ông trở về Tân Quy, Nhà Bè và được những đảng viên Cộng sản như Ba Của, Hai Lân, Tư Huệ móc nối giác ngộ cách mạng. Đây là bước ngoặt quan trọng cuộc đời ông. Ba Dương tận dụng các mối quan hệ, thầu bảo vệ bãi chứa gỗ của Hãng đóng tàu Nichinan của Nhật Bản ở Sài Gòn để làm cơ sở hoạt động bí mật. Tại địa chỉ này, ông đã liên lạc, thuyết phục, quy tụ các nhóm giang hồ hảo hán và truy tìm, cất giấu vũ khí chuẩn bị cho những hành động vì nghĩa lớn.

Phong trào yêu nước ở Nam Kỳ ngày càng dâng cao. Thực dân Pháp vội vàng ban bố tình trạng khẩn cấp. Chúng xua quân truy lùng bắt bớ những người gọi là phần tử nguy hiểm, từ những người Cộng sản, Quốc dân đảng cho tới các chức sắc tôn giáo… và cả dân giang hồ. Dương Văn Dương lại phải trốn tránh về lánh mặt ở Cần Giuộc, nhưng do chỉ điểm, nên ông bị bắt giải về giam ở quận. Xét thấy Ba Dương không có tội trạng đáng ngờ nên chúng lập tức thả ông ra.

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Cơ hội đã đến. Nhờ sự bàn bạc tư vấn của các cán bộ cách mạng, Dương Văn Dương nhanh chóng vận động, tập hợp và thống nhất nhiều băng nhóm giang hồ ở Nhà Bè như Mười Lực, Chín Hiệp, Sáu Thơ đi vào hoạt động có tổ chức. Ông cho mở tiệm cơm, quán nhậu nhằm thu hút quân lính Pháp và Nhật để mua vũ khí hoặc dùng mưu kế để tước vũ khí của chúng trang bị cho quân mình. Ông còn chỉ huy lực lượng của mình phối hợp với Thanh niên Tiền phong, tổ chức đột nhập tận nhà những tên tay sai ác ôn, mật thám, chỉ điểm nhiều nợ máu nhân dân để tước súng và trừng trị chúng.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thông qua Chi bộ Đảng Cộng sản ở Nhà Bè, Dương Văn Dương nhận được chủ trương của Xứ ủy Nam Kỳ. Ông bí mật tập hợp toàn bộ thủ lĩnh các băng nhóm giang hồ, khích lệ tinh thần yêu nước và cách mạng vì đại nghĩa, phổ biến kế hoạch và phân công phối hợp hoạt động trên địa bàn Nhà Bè và cả Sài Gòn, đóng góp vào tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở đô thị lớn nhất phương Nam.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, quân Pháp núp bóng quân Đồng minh quay trở lại xâm lược nước ta. Nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Dương Văn Dương thuyết phục đi đến thống nhất các nhóm nghĩa sĩ giang hồ ở Nhà Bè thành một khối và lấy tên là Bình Xuyên. Danh xưng “Bộ đội Bình Xuyên” chính thức xuất hiện. Bộ đội Bình Xuyên do Dương Văn Dương làm Chỉ huy trưởng, quân số lên đến 2.000 người, trang bị 1.300 khẩu súng, có 2 khẩu đại bác, 7 khẩu trọng liên 13,2mm, 15 khẩu trung liên. Khi tới thăm hỏi, động viên quân lính, Ba Dương luôn kêu gọi lực lượng Bình Xuyên “hãy tỏ rõ mình là chiến sĩ cách mạng”.

Dương Văn Dương năm 1945. Ảnh: Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Ảnh tư liệu

Dương Văn Dương năm 1945. Ảnh: Bảo tàng lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ. Ảnh tư liệu

Hy sinh giữa mùa xuân kháng chiến

Giữa tháng 12-1945, Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình trực tiếp xuống thăm Sở Chỉ huy Bình Xuyên tại Phước An và quyết định bổ nhiệm ông Dương Văn Dương làm Khu bộ phó Khu 7.

Các lực lượng quân sự được tổ chức lại, thống nhất cấp trên đại đội là chi đội, bỏ danh xưng “bộ đội”. Lực lượng Bình Xuyên phiên chế thành: Chi đội 2, Chi đội 3, Chi đội 4, Chi đội 7, Chi đội 9, Chi đội 21 và Chi đội 25. Vì yêu cầu tác chiến, Khu bộ phó Dương Văn Dương kiêm luôn chức Chỉ huy trưởng Liên chi đội 2-3. Dương Văn Hà (Năm Hà) cũng được phong chức chỉ huy các chi đội.

Đến cuối năm 1945, đầu năm 1946, đích thân Tư lệnh Dương Văn Dương đi thực địa và chọn 5 địa điểm để xây dựng căn cứ ở Rạch Xu, Vàm Tượng, Rạch Lá làm cơ sở kháng chiến lâu dài. Theo lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, ông trực tiếp đưa quân chi viện đánh Pháp ở mặt trận Biên Hòa, thắng lợi vang dội.

Sau đó, Khu bộ phó Dương Văn Dương còn nhận lệnh của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình chỉ huy một bộ phận quan trọng lực lượng Bình Xuyên từ Chiến khu Rừng Sác xuống chi viện cho chiến trường Khu 8 ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và thống nhất các lực lượng vũ trang nơi đơn vị tiếp quản.

Theo vị thủ lĩnh anh hùng của Rừng Sác, nguyên Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn 10 Lê Bá Ước, Dương Văn Dương, người thủ lĩnh có uy tín của Bình Xuyên đã có ý thức xây dựng một lực lượng giang hồ đi theo cách mạng và chiến đấu anh dũng ngay từ khi quân Pháp trở lại Sài Gòn. Sau khi hy sinh trong cuộc hành quân về Bến Tre (với cương vị Khu bộ phó Khu 7, chỉ huy trưởng cuộc hành quân), Dương Văn Dương được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy phong quân hàm Thiếu tướng.

Cuộc hành quân bi hùng trên diễn ra vào đầu năm 1946. Theo yêu cầu của Khu bộ phó Khu 8 Trương Văn Giàu chi viện cho miền Tây, Khu bộ phó Khu 7 Dương Văn Dương đã triệu tập hội nghị quân sự tại Rạch Su. Ông đã trình bày kế hoạch đưa quân xuống tăng cường Chiến khu Bến Tre, tiếp cứu mặt trận An Hóa - Giao Hòa đang bị quân Pháp vây hãm uy hiếp căng thẳng. Được sự đồng ý của Khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình, ông ra lệnh chọn các đơn vị có thành tích để thành lập liên quân, gồm 5 đại đội, hành quân về Bến Tre, do mình trực tiếp chỉ huy. Ông cũng chỉ thị cho các đơn vị liên quân tổ chức ăn Tết Nguyên đán trước 3 ngày để chuẩn bị hành quân.

Đêm 30 Tết Bính Tuất năm 1946, Tư lệnh Dương Văn Dương ra lệnh binh sĩ lên tàu xuồng vượt sông Soài Rạp, nhanh chóng hành quân xuyên qua Bình Phục Nhất. Liên quân vừa đi vừa đánh tạo khí thế. Cánh quân Tân Quy đánh Chợ Trạm. Cánh quân Tân Thuận đánh Cần Đước. Cánh quân Nhà Bè đánh Cần Giuộc. Sau đó, các cánh quân hợp tại Chợ Gạo trước khi tiến vào Bến Tre. Tuy nhiên, khi liên quân vừa đến bờ nam Cửa Tiểu thì được tin cấp báo mặt trận An Hóa - Giao Hòa đã bị địch đánh chiếm. Dương Văn Dương cùng Bộ Chỉ huy hành quân liền tổ chức hội nghị quyết định tổ chức đánh đoàn tàu thực phẩm của Pháp, sau đó hành quân về xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để hội quân với lực lượng Cộng hòa Vệ binh, Quốc gia Tự vệ cuộc do hai ông Trương Văn Giàu và Nguyễn Văn Quạn chỉ huy. Tiếp theo, bàn kế hoạch phối hợp mở mặt trận đánh quân Pháp và giải tán Đệ tam Sư đoàn đã có những hành động quân phiệt gây bất bình trong nhân dân.

Hội nghị đang diễn ra khẩn trương thì nhận tin cấp báo quân Pháp sắp tấn công liên quân. Các đơn vị nhận lệnh triển khai lập phòng tuyến. Tình hình nguy cấp, Tư lệnh Dương Văn Dương được một cán bộ tham mưu đưa cho một xấp giấy thuế thân nhằm giả làm thường dân vượt thoát bảo toàn tính mạng và lực lượng. Nhưng ông bất ngờ xé vụn và khẳng khái nói: “Cảm ơn anh đã lo cho tôi, nhưng kẻ làm tướng mà bỏ quân chạy trước là tướng hèn. Tôi quyết không nghe theo lời anh”.

Tinh thần quả cảm của người đứng đầu đã truyền thêm sức mạnh cho liên quân vùng lên kháng cự. Khoảng hơn 8 giờ sáng, ba chiếc máy bay Spitfire của quân Pháp từ phía bắc lao tới, quần đảo mấy vòng rồi chúi xuống xả nhiều loạt đạn. Tư lệnh Dương Văn Dương bị một viên đạn kẻ thù xuyên thẳng lồng ngực, ông hy sinh ngày 17-2-1946. Thi hài ông được bộ đội và nhân dân bảo quản chôn cất tại làng Châu Bình thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, hài cốt của chiến tướng Dương Văn Dương được cải táng đưa về yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.

Sự hy sinh anh dũng của Tư lệnh Dương Văn Dương có sức động viên to lớn tinh thần chống Pháp của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Nam Bộ. Năm 1948, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra quyết định công nhận ông là liệt sĩ và truy phong quân hàm Thiếu tướng. Trong mật điện số 946/TRT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi lời chia buồn đến gia quyến của Tư lệnh Dương Văn Dương.

Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ quyết định lấy tên Dương Văn Dương đặt cho một kênh đào dài nhất ở Đồng Tháp Mười. Vốn trước đây, kênh mang tên La Grandìere, một viên tham biện tỉnh Tân An do chính quyền thực dân cử đứng ra điều hành công việc đào kênh. Kênh Dương Văn Dương dài 45km, chảy qua địa bàn huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An sang tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra, Trung đoàn 300 - Trung đoàn Nam tiến còn được vinh dự mang tên Trung đoàn Dương Văn Dương. Tên ông được đặt cho một ngôi trường Trung học phổ thông và một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi nhưng thật đẹp. Từ thủ lĩnh Bình Xuyên đến Khu bộ phó Khu 7 là một hành trình phong phú, dũng cảm, kiên trung, nghĩa khí.

Nhà văn PHAN HOÀNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/duong-van-duong-tu-thu-linh-binh-xuyen-den-vi-tuong-cua-cach-mang-1042000