Duy tân và năng lực kiến tạo
ĐNCT - Người Quảng xưa nay vốn trân trọng những người học giỏi, đỗ cao. Nhưng nếu lắng nghe cách họ kể về các bậc tiền nhân, sẽ thấy sự ngưỡng mộ sâu sắc nhất luôn dành cho những người đem hết sở học góp vào công cuộc đổi mới quê hương, đất nước. Với họ, thước đo của học vấn không nằm trên bảng vàng mà nằm ở những tri thức được ứng dụng làm thay đổi đời sống.

Tượng Bác Hồ ngồi đọc sách tại khuôn viên Thư viện Đà Nẵng. Ảnh: Tư liệu
Vậy một vùng đất có truyền thống hiếu học cần làm gì để tri thức trở thành năng lực giải quyết vấn đề của xã hội? Có lẽ câu trả lời nên bắt đầu từ chính những người đã đặt câu hỏi ấy đầu tiên, hơn một thế kỷ trước.
Học để làm, không chỉ để đỗ đạt
Xứ Quảng vốn từ xưa đã nổi danh với truyền thống học hành và đỗ đạt. Khoa Mậu Tuất 1898, 5 người Quảng cùng đỗ tiến sĩ và phó bảng. Người đương thời vinh danh họ là "Ngũ phụng tề phi".
Ba năm sau, khoa Tân Sửu 1901, Quảng Nam có thêm 4 người đỗ phó bảng. Khoa Giáp Thìn 1904, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng cùng đỗ tiến sĩ, trong đó Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu kỳ thi Hội. Hiếm có vùng đất nào trong vòng 6 năm có nhiều người đỗ đạt đến thế.
Nhưng điều khiến "bộ ba Quảng Nam" lưu danh hậu thế không phải là bảng vàng khoa cử. Đó là việc họ dám rời khỏi lối học cử nghiệp để tìm đọc "tân thư", học cái mới của thời đại, rồi đem cái mới ấy vào đời sống. Họ cùng khởi xướng Phong trào Duy tân.
Những năm đầu thế kỉ XX, Đất Quảng cũng là nơi thành lập một trong những ngôi trường tân học sớm nhất cả nước (Trường Phú Lâm). Phong trào Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội cũng có sự đóng góp mạnh mẽ của các chí sĩ vùng đất này.
Không chỉ những nhân vật đỗ đạt, ở đây cò còn những người tuy không nổi bật ở đường khoa cử nhưng đã tận hiến sở học cho quê hương: Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thanh, Lê Văn Hiến… Mẫu số chung khiến những nhân vật trên đây được cộng đồng tôn vinh và ghi nhận, chính là những gì họ làm cho quê hương từ những tri thức học được.
Ngày nay, nhìn lại tinh thần Duy tân, có thể thấy tinh thần đó bao gồm hai yếu tố không tách rời: thứ nhất là tinh thần dám học cái mới, kể cả khi cái mới đến từ bên ngoài và ngược thói quen cũ.
Nhưng thứ hai, quan trọng hơn là đưa hiểu biết vào hành động cụ thể: mở trường, lập hội, chấn hưng nghề nghiệp, thay đổi nếp sống. Chỉ khi có cả hai yếu tố đó mới hình thành được những con người có tính kiến tạo.
Để tri thức chuyển hóa thành năng lực thực tiễn
Hơn một thế kỷ sau, Đà Nẵng đứng trước một bài toán có quy mô hoàn toàn khác. Nghị quyết số 202/2025/QH15 sắp xếp toàn bộ thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố Đà Nẵng mới. Không gian ấy trải từ nam Hải Vân vào đến Dốc Sỏi, từ hai xã đảo Tam Hải, Tân Hiệp lên tận vùng núi Ngọc Linh.
Phần lớn lãnh thổ và một bộ phận lớn cư dân của Đà Nẵng hôm nay sống ngoài khu đô thị trung tâm. Nhu cầu học tập của họ rất khác nhau. Trong khi đó, mục tiêu phát triển của thành phố rất cao, theo định hướng "Vươn Đông, tỏa Tây".
Giữa hai thực tế ấy có một khoảng cách lớn. Các thống kê gần đây cho thấy, nếu không kể sách giáo khoa, bình quân mỗi người Việt chỉ đọc chừng 1,2 - 1,3 cuốn sách mỗi năm. Nhưng ngay cả khi con số ấy tăng lên, nếu những gì được đọc không gắn với bài toán của người đọc, nó vẫn khó trở thành năng lực.
Lịch sử Hội An gợi ý cách nhìn khác. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kim và Nguyễn Ngọc Bách cho rằng tầm vóc của một trung tâm kinh tế không chỉ do quy mô hay nguồn lực nội tại quyết định. Điều quyết định là khả năng kết nối với các mạng lưới bên ngoài.
Trong thời kỳ châu ấn thuyền (1604 - 1635), Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho khoảng 350 lượt thuyền buôn Nhật Bản ra nước ngoài, trong đó 130 lượt đến Việt Nam. Theo GS Vũ Minh Giang, khoảng 2/3 số đó, tức 86 chiếc, cập cảng Hội An. Người ta tìm đến Hội An không chỉ vì hàng hóa phong phú. Họ đến vì môi trường cởi mở, an toàn, thuế khóa công khai, minh bạch.
Tri thức cũng vận hành như một thương cảng. Nó chỉ thực sự sinh lợi khi có "bến" để cập vào, có "luồng" để lưu thông và có người biết đem nó đi trao đổi. Đà Nẵng cần những "bến tri thức" như thế.
Từ nơi đọc sách đến không gian kiến tạo
Nếu cần chọn một nơi để bắt đầu, tôi nghĩ đó nên là thư viện. Pho tượng Bác Hồ ngồi đọc sách trước Thư viện Đà Nẵng đã là một biểu tượng đẹp. Bước tiếp theo là làm cho không gian phía sau pho tượng trở thành nơi người dân tìm đến không chỉ để đọc, mà để học cách giải quyết các vấn đề hoặc thách thức của thực tiễn lĩnh vực mình đang hoạt động và làm việc.
Các trường Duy tân ở Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm năm xưa chính là những không gian như thế: nơi người ta đọc sách mới, nghe diễn thuyết, bàn chuyện nghề, chuyện làng. Một thư viện mang tinh thần Duy tân hôm nay có thể vận hành theo bốn chức năng.
Đọc có định hướng. Bên cạnh tủ sách chung, thư viện xây dựng những tủ sách chuyên đề gắn với các vấn đề cụ thể đặc trưng của địa phương. Ví dụ: bảo tồn và phát triển đô thị di sản Hội An, kinh tế biển, nông nghiệp vùng cao, chuyển đổi số trong dịch vụ công cấp xã. Mỗi tủ sách có danh mục do chuyên gia gợi ý và được cập nhật hằng năm.
Thảo luận. Mỗi tháng tổ chức những buổi tọa đàm nhỏ quanh một cuốn sách hoặc một vấn đề, theo tinh thần "diễn thuyết" của các nhà Duy tân. Người dự không chỉ nghe mà cùng đặt câu hỏi và đề xuất.
Học kỹ năng. Thư viện là nơi tổ chức các lớp ngắn về kỹ năng số, ngoại ngữ giao tiếp du lịch, viết đề án, tra cứu dữ liệu, bán hàng trực tuyến cho sản phẩm làng nghề.
Kết nối chuyên gia. Thư viện duy trì một mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và người đã nghỉ hưu sẵn sàng dành vài giờ mỗi tháng tư vấn cho người dân. Đất Quảng có đội ngũ đông đảo nhà nghiên cứu am hiểu sâu sắc lịch sử, văn hóa quê hương. Đó là một nguồn lực rất lớn nếu được kết nối với cộng đồng.
Điều quan trọng là thư viện trung tâm không thể làm một mình. Với 70 xã trải dài từ đồng bằng lên miền núi, ra hải đảo, cần một mạng lưới điểm đọc vệ tinh tại nhà văn hóa xã, trường học và bưu điện.
Có thể tính đến thư viện lưu động theo các trục giao thông, giống như các bến chợ ven sông Thu Bồn, Trường Giang xưa từng đưa hàng hóa từ biển lên nguồn. Cù Lao Chàm và Tam Hải cần những tủ sách phục vụ ngư dân và du lịch cộng đồng.
Thước đo đúng cho thư viện là số người rời khỏi thư viện với một năng lực mới, một kết nối mới hoặc một giải pháp mới cho việc của mình.
Từ trường học đến bến sông, phố cổ…
Hệ sinh thái học tập suốt đời không thể chỉ dựa vào những khóa học dài hạn, xa rời công việc hằng ngày. Người trưởng thành học hiệu quả nhất khi họ học để giải một vấn đề đang đặt trước mặt.
Vì vậy, thành phố Đà Nẵng có thể thí điểm những chương trình học ngắn, khoảng 6-8 tuần, học vào buổi tối hoặc cuối tuần. Mỗi khóa xoay quanh một "đề bài thật" do một cơ quan, doanh nghiệp hoặc cộng đồng đặt ra.
Mỗi khóa học nên kết thúc bằng một buổi trình bày giải pháp trước chính người đã đặt đề bài.
Cách làm này không mới với xứ Quảng. Các nhà Duy tân năm xưa không chỉ mở trường dạy chữ. Họ còn lập hội buôn như Quảng Nam hiệp thương công ty, lập nông hội, khuyến khích nghề nghiệp, đưa cái học vào đời sống kinh tế. Điểm khác là hôm nay chúng ta có công nghệ để làm việc ấy ở quy mô lớn hơn, nhanh hơn và đo đếm được.
Vế thứ ba của hệ sinh thái là sự hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng. Học sinh, sinh viên tham gia vào những dự án thật, với người hướng dẫn đến từ thực tiễn. Những nghiên cứu gần đây về đất Quảng đã gợi ý rất nhiều đề tài như thế.
Di sản. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Hằng, hệ thống địa danh xứ Quảng là những "hóa thạch lịch sử" ghi lại quá trình mở đất, lập làng. Hệ thống ấy đang đứng trước nguy cơ mai một do đô thị hóa và sắp xếp lại đơn vị hành chính. Học sinh trung học có thể cùng thầy cô và các cụ cao niên trong làng ghi lại tên xứ đồng, bến nước, gò đồi, xây dựng "bản đồ địa danh" cho từng xã. Sinh viên ngành Hán Nôm, lịch sử có thể tham gia số hóa sắc phong, gia phả, văn khế, tiếp nối công việc mà bộ tư liệu Quảng Nam tỉnh tạp biên đã khởi đầu.
Môi trường. Dòng Trường Giang từng là thủy lộ huyết mạch của đất Quảng nhiều thế kỷ. Sông Cổ Cò từng nối cửa Hàn với cửa Đại. Những dòng sông ấy hôm nay có thể trở thành phòng thí nghiệm ngoài trời cho các dự án về chất lượng nước, sinh kế ven sông, phục hồi cảnh quan. Doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương cùng đặt hàng.
Dịch vụ công. Sinh viên công nghệ thông tin, quản trị có thể cùng một số xã khảo sát trải nghiệm của người dân khi làm thủ tục, rồi đề xuất cách đơn giản hóa. Đây là những cải tiến nhỏ nhưng tác động trực tiếp đến hàng nghìn người.
Sinh kế. Làng nghề nước mắm, đá mỹ nghệ Non Nước, lụa Gò Nổi đều cần những dự án nhỏ về thiết kế, truyền thông, thương mại điện tử. Doanh nghiệp đồng hành bằng cách nhận sinh viên thực tập, chia sẻ dữ liệu và cùng chịu trách nhiệm về kết quả.
Tinh thần Duy Tân hôm nay
Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tiếng trong bài viết Đất Quảng qua góc nhìn địa-văn hóa, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 590, tháng 8/2026 lý giải rằng cái tình gắn bó giữa Đà Nẵng và Quảng Nam xuất phát từ cội nguồn văn hóa xứ Quảng "chưa mưa đà thấm", tức là rất nhạy cảm với cái mới. Đó chính là một lợi thế hiếm có của vùng đất này.
Một cộng đồng nhạy với cái mới sẽ học nhanh. Nhưng để học nhanh trở thành làm được, cộng đồng ấy cần những cấu trúc bền vững: thư viện mở, chương trình học gắn với việc thật, những liên minh giữa nhà trường, doanh nghiệp và người dân.
Hơn một thế kỷ trước, Phan Châu Trinh và các đồng chí đã cống hiến bằng niềm tin rằng dân trí là gốc của mọi sự đổi thay. Từ niềm tin ấy, những ngôi trường làng ở Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm đã lan tỏa cảm hứng ra cả nước.
Hôm nay, Đà Nẵng có trong tay rất nhiều lợi thế để làm động lực phát triển mới: một không gian phát triển kéo dài từ đại dương lên đại ngàn, những nghị quyết với tầm nhìn đến năm 2045, một kho tri thức về chính mình mà các nhà nghiên cứu đã dày công tích lũy.
Truyền thống hiếu học là vốn liếng. Năng lực kiến tạo là cách sinh lời từ vốn liếng ấy. Một vùng đất chỉ giữ vốn mà không biết làm cho vốn sinh lời thì sớm muộn cũng sẽ nghèo đi. Ngược lại, khi người dân biết biến điều mình đọc thành việc làm, truyền thống sẽ không còn là niềm tự hào về quá khứ mà trở thành động lực cho tương lai.
Pho tượng Bác Hồ ngồi đọc sách vẫn lặng lẽ ngồi đó bên sông Hàn mỗi ngày. Có lẽ câu hỏi mà hình ảnh ấy gửi đến chúng ta không phải là "hôm nay ta đã đọc gì?", mà là: "điều ta đã đọc, đã học, đã giải được bài toán nào của quê hương?".
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/duy-tan-va-nang-luc-kien-tao-3357843.html
