Duy trì chính sách nhân lực hài hòa
Mùa tuyển sinh đại học năm 2026 cho thấy chính sách có thể làm thay đổi khá nhanh lựa chọn ngành nghề của người học. Nghị định 179/2026/NĐ-CP cùng danh mục 111 ngành thuộc 15 nhóm ngành được hưởng học bổng đã phát đi tín hiệu rõ ràng: Nhà nước cần thêm nhân lực cho khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ chiến lược.
Tuy nhiên, khi chính sách giúp tạo sức hút mạnh cho một số nhóm ngành cũng cần thiết lưu tâm đến những lĩnh vực khác, nhất là trong tương quan nhìn về nguồn nhân lực cho những lĩnh vực này trong tương lai.
Tại Đại học Cần Thơ, điểm trúng tuyển năm 2026 của nhiều ngành như Chăn nuôi, Nông học, Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật, Nuôi trồng thủy sản, Bệnh học thủy sản và Quản lý thủy sản đều 15 điểm và mức điểm này đã giữ “bền vững” trong vài mùa tuyển sinh gần đây. Hoặc như Học viện Nông nghiệp Việt Nam, trong nhiều năm gần đây điểm trúng tuyển của phần lớn các ngành nông nghiệp truyền thống cốt lõi thường cũng chỉ ở quanh mức 15-17 điểm. Xu hướng này cho thấy sức hút của nhiều ngành nông nghiệp nhìn chung vẫn thấp và kéo dài.
Những ngành ít người chọn trên lại liên quan trực tiếp đến nhu cầu dài hạn của đất nước. An ninh lương thực, an toàn thực phẩm, giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, đất, nước và thích ứng biến đổi khí hậu đều cần đội ngũ kỹ thuật có trình độ chất lượng cao. Khi nông nghiệp chuyển sang công nghệ cao, số hóa, sản xuất xanh và theo chuỗi giá trị, nhu cầu ấy càng lớn. Người học thường lựa chọn theo cơ hội mà họ nhìn thấy trước mắt, còn chính sách nhân lực phải nhìn xa hơn để biết 5 năm, 10 năm tới đất nước cần loại nhân lực nào, ở đâu và ở trình độ ra sao. Ưu tiên lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán) và công nghệ chiến lược là đúng nhưng chính sách cần nhìn cả tác động đến cơ cấu nhân lực chung. Khi một học sinh giỏi thấy ngành này có học bổng, chương trình tài năng, phòng thí nghiệm tốt, doanh nghiệp săn đón và triển vọng nghề nghiệp rõ ràng trong khi ngành kia hầu như không có ưu tiên tương xứng thì lựa chọn sẽ dịch chuyển.
Điều đáng lo không phải là nhiều người trẻ chọn những ngành công nghệ nhiều hơn mà là những lĩnh vực thiết yếu vốn đã khó tuyển lại tiếp tục mất nguồn tuyển tốt. Nông nghiệp vì thế cần được nhìn lại trong chiến lược nhân lực quốc gia. Không nhất thiết mọi ngành đều được ưu đãi như nhau, càng không nên dùng ngân sách để cứu những chương trình đào tạo yếu. Nhà nước cần xác định những ngành thiết yếu có nguy cơ thiếu nhân lực kỹ thuật cao để có chính sách đủ sức hút: học bổng, hỗ trợ học phí, đặt hàng đào tạo, thực tập có lương và cơ chế thu hút người tốt nghiệp về doanh nghiệp, địa phương. Và những ưu tiên ấy phải dựa trên dự báo nhu cầu nhân lực.
Các cơ sở đào tạo cũng không thể chờ chính sách của Nhà nước để giải quyết bài toán tuyển sinh. Chỉ đổi tên chương trình thành “nông nghiệp công nghệ cao”, “nông nghiệp số” chưa làm cho chương trình trở nên hiện đại. AI, cảm biến, dữ liệu, tự động hóa, công nghệ sinh học, quản trị chuỗi cung ứng, kinh tế nông nghiệp phải đi vào nội dung học và thực hành. Doanh nghiệp, hợp tác xã, viện nghiên cứu cần tham gia sâu hơn để sinh viên được tiếp xúc với công việc và công nghệ ngay từ khi còn ở nhà trường…
Việt Nam cần nhân lực cho AI, bán dẫn, tự động hóa và những công nghệ mới nhưng cũng phải bảo đảm đủ người cho các lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế và đời sống. Chính sách nhân lực phải tạo được những mũi nhọn mà không để những khoảng trống khác ngày càng rộng ra. Sức hút kém và kéo dài của một số ngành thiết yếu cho thấy nguy cơ mất cân đối nguồn nhân lực đã hiện hữu. Khắc phục tình trạng này cần sự vào cuộc từ chính sách của Nhà nước, đổi mới của các cơ sở đào tạo đến trách nhiệm của doanh nghiệp và những nơi trực tiếp sử dụng nhân lực. Chính sách nhân lực vì thế phải nhìn cả những ngành cần ưu tiên lẫn những lĩnh vực thiết yếu bởi phát triển bền vững đòi hỏi một cơ cấu nhân lực hài hòa.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/duy-tri-chinh-sach-nhan-luc-hai-hoa-post867681.html


