El Nino mạnh lên, doanh nghiệp phân bón đối mặt những rủi ro nào?
El Niño được dự báo mạnh lên vào cuối năm 2026, làm gia tăng rủi ro hạn hán, xâm nhập mặn. Tuy nhiên, tác động đến doanh nghiệp phân bón còn phụ thuộc thị trường tiêu thụ và khả năng xuất khẩu.
ENSO không quyết định trực tiếp sức tiêu thụ phân bón
Trong báo cáo phân tích ngành phân bón, Techcom Securities (TCBS Research) đánh giá ảnh hưởng của hai pha ENSO là El Niño và La Niña đến hoạt động thương mại, sản lượng và kết quả kinh doanh của 5 doanh nghiệp niêm yết, gồm Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (DPM), Công ty CP Phân bón Dầu khí Cà Mau (DCM), Công ty CP Phân bón Bình Điền (BFC), Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao (LAS) và Công ty CP DAP - Vinachem (DDV).
El Niño là hiện tượng nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực xích đạo Thái Bình Dương tăng cao bất thường. Ở Việt Nam, hiện tượng này thường gắn với nắng nóng kéo dài, lượng mưa suy giảm, hạn hán và xâm nhập mặn, nhất là tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Ngược lại, La Niña thường đi kèm lượng mưa tăng, làm gia tăng nguy cơ bão và lũ lụt ở một số khu vực.

Dù vậy, các hình thái thời tiết này không tạo ra tác động giống nhau trong mọi chu kỳ. Cường độ, thời gian xuất hiện và phạm vi ảnh hưởng của từng đợt ENSO có thể khác biệt đáng kể. Bởi vậy, việc xác định triển vọng của doanh nghiệp phân bón cần đặt trong bối cảnh cụ thể, thay vì chỉ căn cứ vào trạng thái khí hậu.
Thống kê của TCBS Research cho thấy, trong 20 phiên giao dịch sau khi Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) công bố El Niño, nhóm cổ phiếu phân bón diễn biến kém hơn VN-Index trong 3/4 đợt được thống kê kể từ năm 2015. Tuy nhiên, diễn biến giá cổ phiếu không đồng nghĩa với mức độ thay đổi tương ứng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, dữ liệu thương mại không cho thấy nhập khẩu phân bón giảm trong các giai đoạn El Niño. Theo số liệu TCBS Research tổng hợp từ Cục Hải quan trong giai đoạn tháng 1/2015 đến tháng 9/2026, lượng phân bón nhập khẩu bình quân trong những giai đoạn này tăng 14,6% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu giảm bình quân 12,8%.
Ở các giai đoạn La Niña, xu hướng ghi nhận có phần ngược lại: nhập khẩu giảm bình quân 1%, còn xuất khẩu tăng 24%.

Những con số trên cho thấy mối liên hệ giữa thời tiết và dòng chảy thương mại phân bón không đơn giản. Hạn hán không nhất thiết khiến nhu cầu trong nước suy giảm trên diện rộng, cũng không đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ tự động chuyển được lượng hàng dư thừa sang thị trường xuất khẩu.
Theo TCBS Research, yếu tố thời điểm có thể góp phần lý giải sự biến động này. El Niño giai đoạn 2023–2024 diễn ra khi thị trường phân bón phục hồi sau cú sốc giá năm 2022, cùng với đó là lượng nhập khẩu năm 2024 tăng 28%. Do vậy, chưa thể quy toàn bộ thay đổi trong hoạt động xuất nhập khẩu cho điều kiện thời tiết.
Sản lượng giữa các doanh nghiệp phân hóa
Số liệu giai đoạn 2016–2025 của DPM, DCM, BFC, LAS và DDV cho thấy sản lượng của các doanh nghiệp không biến động theo một chiều thống nhất trước tác động của ENSO. Ngay cả trong cùng một đợt thời tiết bất lợi, kết quả giữa các đơn vị vẫn có thể trái ngược.
Năm 2016, khi El Niño diễn biến rất mạnh, cả 5 doanh nghiệp đều đề cập đến những bất lợi về thời tiết trong báo cáo thường niên. Tuy nhiên, sản lượng ure của DCM vẫn tăng 5%, trong khi sản lượng phân bón của BFC tăng 4%. Trái lại, sản lượng DAP của DDV giảm 34%, trong đó có nguyên nhân từ sự cố sản xuất.
Trường hợp này cho thấy kết quả hoạt động không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu mà còn phụ thuộc vào thị trường đầu ra, cơ cấu sản phẩm và khả năng duy trì vận hành của từng doanh nghiệp.
Đối với DCM, Đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia là những thị trường chủ lực. Vì vậy, hạn hán, xâm nhập mặn và sự thay đổi lịch mùa vụ tại các khu vực này có thể tác động đến nhu cầu tiêu thụ. Khả năng mở rộng hoặc điều chỉnh xuất khẩu là một yếu tố có thể hỗ trợ doanh nghiệp khi sức mua trong nước biến động.
DPM có phạm vi tiêu thụ rộng hơn, trải dài trên nhiều khu vực trong nước. Đặc điểm này giúp doanh nghiệp phân tán một phần rủi ro khi thời tiết bất lợi chỉ tập trung tại một số địa bàn. Dù vậy, sản lượng tiêu thụ và giá bán vẫn chịu ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, diễn biến thị trường quốc tế và chính sách thương mại.
Trong khi đó, BFC có thị trường gắn với Nam Bộ và Tây Nguyên, còn LAS tập trung nhiều hơn tại miền Bắc và miền Trung. Sự khác biệt về địa lý khiến mức độ ảnh hưởng của hạn hán, mưa lớn hoặc bão lũ đến từng doanh nghiệp không giống nhau.
DDV có thêm yếu tố cần lưu ý là sự phụ thuộc vào thị trường quốc tế. Theo TCBS Research, xuất khẩu chiếm 68% sản lượng DAP của doanh nghiệp trong năm 2025. Với tỷ trọng này, diễn biến nhu cầu và giá bán ở nước ngoài có vai trò quan trọng bên cạnh sức tiêu thụ trong nước.
Một ví dụ khác là năm 2020, khi Đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với xâm nhập mặn nghiêm trọng, còn miền Trung chịu ảnh hưởng của lũ lụt vào cuối năm. Trong bối cảnh đó, sản lượng ure của DPM tăng 20% và DCM tăng 15%. TCBS Research cho rằng xuất khẩu tăng mạnh hơn đã góp phần hỗ trợ tiêu thụ, cho thấy việc điều chỉnh thị trường đầu ra có thể giúp doanh nghiệp thích ứng với những thay đổi của nhu cầu.
Nhìn tổng thể, dữ liệu lịch sử chưa xác lập được mối quan hệ nhất quán giữa các pha ENSO và sản lượng của từng doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2015–2025, báo cáo thường niên của 5 doanh nghiệp đề cập thời tiết bất lợi trong 30 trên tổng số 54 năm báo cáo được thống kê. Tuy nhiên, chỉ DDV lượng hóa tác động đến sản lượng trong một trường hợp cụ thể.
Việc thiếu dữ liệu định lượng cũng là hạn chế khi đánh giá mức độ ảnh hưởng thực tế của thời tiết đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành phân bón.
Theo dữ liệu NOAA được TCBS Research dẫn lại, chỉ số RONI trong giai đoạn tháng 7–9/2026 đạt +1El Niño 2026–2027: Rủi ro tập trung vào mùa vụ và đầu ra,7°C, cho thấy trạng thái El Niño. Trong khi đó, chỉ số Nino 3.4 tương đối của Cục Khí tượng Úc đạt +2,83°C trong tuần kết thúc ngày 4/10/2026, mức cao nhất trong chuỗi số liệu tuần kể từ năm 2008.
Ngày 8/10/2026, NOAA dự báo xác suất El Niño mạnh lên đạt 83%, với chỉ số RONI trong giai đoạn tháng 10–12/2026 có thể đạt từ +2,5°C trở lên. Đây là dự báo tại thời điểm công bố, chưa phải kết luận về mức độ ảnh hưởng thực tế đến sản xuất nông nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, dự báo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia ngày 19/9/2026, được TCBS Research trích dẫn, cho thấy nguy cơ nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa và xâm nhập mặn có thể kéo dài sang đầu năm 2027. Lượng mưa đến cuối năm được dự báo thiếu hụt phổ biến 20–40% tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô đầu năm 2027 được đánh giá ở mức cao.
Đối với doanh nghiệp phân bón, rủi ro trước tiên nằm ở khả năng thời tiết bất lợi làm thu hẹp diện tích gieo trồng, khiến nông dân điều chỉnh lịch xuống giống hoặc giảm lượng phân bón sử dụng. Tác động có thể tập trung tại các vùng thiếu nước và chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, thay vì lan rộng đồng đều trên toàn quốc.
Tuy nhiên, nhu cầu phân bón còn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố khác, như lịch mùa vụ, giá nông sản, giá phân bón và khả năng tài chính của người sản xuất. Do đó, mức độ suy giảm nhu cầu, nếu có, sẽ phụ thuộc vào diễn biến thực tế tại từng địa bàn và từng thời điểm.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp có mạng lưới tiêu thụ quốc tế và khả năng linh hoạt về đầu ra có thể tìm kiếm thị trường thay thế khi sức mua trong nước suy yếu. Tuy nhiên, phương án này không phải lúc nào cũng khả thi, đặc biệt nếu điều kiện thời tiết bất lợi đồng thời ảnh hưởng đến nhiều thị trường hoặc nhu cầu quốc tế suy giảm.
Bên cạnh sức tiêu thụ, hoạt động sản xuất cũng là yếu tố cần được theo dõi. Bão có thể gây gián đoạn vận hành nhà máy và nguồn cung nguyên liệu; nắng nóng, thiếu điện cũng có thể ảnh hưởng đến sản xuất. Báo cáo của TCBS Research dẫn trường hợp bão Yagi năm 2024 khiến sản lượng DAP của DDV giảm khoảng 8.000 tấn, tương đương 3% sản lượng cả năm.
Một vấn đề khác là khả năng chuyển từ El Niño sang La Niña trong năm 2027. Theo TCBS Research, sau hai đợt El Niño rất mạnh gần nhất, vào các năm 1997–1998 và 2015–2016, La Niña đều xuất hiện ngay sau đó. Tuy nhiên, đây mới là quan sát từ hai chu kỳ lịch sử, chưa đủ cơ sở để khẳng định kịch bản tương tự sẽ lặp lại trong năm 2027.
Nếu chuyển pha xảy ra, rủi ro đối với nông nghiệp có thể thay đổi từ hạn hán ở phía Nam sang mưa lớn, bão lũ tại phía Bắc trong nửa cuối năm. Khi đó, doanh nghiệp phân bón có thể phải đối mặt với những thay đổi khác về lịch mùa vụ, nhu cầu tiêu thụ và điều kiện vận hành.
Trong bối cảnh El Niño được dự báo mạnh lên, đánh giá triển vọng ngành phân bón cần đặt trong mối tương quan giữa thời tiết, cung cầu và đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp. Các yếu tố đáng theo dõi gồm diễn biến ENSO, lịch gieo trồng vụ Đông Xuân 2026–2027, tình hình xuất nhập khẩu, giá phân bón thế giới và sản lượng thực tế của từng đơn vị.
Theo TCBS Research, dữ liệu lịch sử chưa đủ để khẳng định El Niño luôn khiến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phân bón suy giảm. Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào địa bàn tiêu thụ, thời điểm xảy ra thời tiết cực đoan và khả năng thích ứng của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, thay vì đánh giá toàn ngành theo một kịch bản khí hậu duy nhất, cần xem xét riêng các yếu tố rủi ro và lợi thế của từng doanh nghiệp trong mùa khô 2026–2027.


