[Emagazine] Chuyển đổi số ngành Ngân hàng: Cuộc chuyển mình của một hạ tầng với đa lớp giá trị

Sau 5 năm triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, ngành Ngân hàng Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới, nơi trải nghiệm khách hàng, hạ tầng thanh toán, năng lực cấp tín dụng và cả bộ máy vận hành nội bộ đều được tái cấu trúc quanh hai trục dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề "Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI", 16 đại diện đến từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp công nghệ mang đến những câu chuyện rất riêng về kết quả cụ thể của quá trình chuyển đổi số, qua đó, phác họa một bức tranh chuyển đổi số tổng thể của toàn Ngành.

Điểm đáng chú ý của bức tranh chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm nay là tính hệ thống. Thay vì mỗi đại biểu thuyết trinhg một nội dung đơn lẻ, các phần trình bày tại sự kiện được Ban tổ chức sắp xếp theo 5 nhóm vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, đưa ra bức tranh khái quát về quá trình kiến tạo thể chế, thành tựu nổi bật của ngành Ngân hàng trong 5 năm chuyển đổi số. Đồng thời giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng tiêu biểu theo bốn khía cạnh: định danh số là điều kiện tiên quyết để một khách hàng bước vào hệ sinh thái số; thanh toán số là lớp ứng dụng phổ biến nhất, gắn trực tiếp với đời sống hàng ngày; tín dụng số là bước phát triển cao hơn, đòi hỏi ngân hàng phải khai thác dữ liệu để ra quyết định cho vay; và sau cùng, năng lực về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo cùng an toàn bảo mật chính là hạ tầng kỹ thuật quyết định cả ba lớp trên có vận hành bền vững hay không. Cách tiếp cận này thể hiện đúng tinh thần của sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề "Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI".

Thể chế đi trước, nâng cấp hạ tầng dữ liệu và phát triển hệ sinh thái số theo sau

Là một trong những ngành đầu tiên chuyển đổi số, ngành Ngân hàng luôn bám sát chủ trương của Đảng, Chính phủ về xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đẩy mạnh đổi mới mô hình quản trị quốc gia trên nền tảng số với 3 trụ cột là Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nhìn lại hành trình 5 năm qua, chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã kiến tạo nên 3 trụ cột vững chắc là kiến tạo thể chế, nâng cấp hạ tầng dữ liệu và phát triển hệ sinh thái số.

Bám sát quan điểm thể chế phải đi trước một bước, NHNN đã chủ động xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở chủ trương của Nghị quyết Bộ Chính trị ban hành, các luật đã được Quốc hội thông qua và các nghị định được Chính phủ ban hành, Ngân hàng Nhà nước đã sớm ban hành chiến lược, kế hoạch chuyển đổi số trong toàn ngành. Đồng thời nghiên cứu, ban hành nhiều văn bản để thúc đẩy chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, phục vụ hoạt động phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. Tại các văn bản hướng dẫn đã quy định về việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để người dân thực hiện việc định danh điện tử, mở tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng, ví điện tử, bảo lãnh cho vay điện tử, thực hiện các dịch vụ ngân hàng trực tuyến toàn trình.

Cùng với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng trên kênh số, ngành Ngân hàng xây dựng niềm tin số trên 3 tầng bảo vệ, đó là làm sạch, đối chiếu đúng thông tin sinh trắc học với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; định danh, xác minh khách hàng trong giao dịch trực tuyến và xác nhận sự đồng ý của khách hàng thông qua các phương thức an toàn, đảm bảo giao dịch đúng người, đúng tài khoản. Đồng thời, xây dựng kho dữ liệu các tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, đơn vị chấp nhận thanh toán nghi ngờ gian lận, lừa đảo và cung cấp dịch vụ cảnh báo cho khách hàng khi thực hiện chuyển tiền. Nhờ đó, tính đến hết ngày 14 tháng 8 năm 2026, đã có 5 triệu lượt khách hàng nhận cảnh báo từ hệ thống SIMO của Ngân hàng Nhà nước, qua đó góp phần bảo vệ và giữ lại hơn 5,6 nghìn tỷ đồng.

Không dừng lại ở đó, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên kênh số không chỉ đưa các dịch vụ tài chính đến mọi miền đất nước từ vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo đến từng người dân, doanh nghiệp mà còn từng bước hiện diện trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời vươn ra kết nối xuyên biên giới, góp phần thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế số.

Trên nền tảng 3 trụ cột do NHNN kiến tạo, các tổ chức tín dụng đã chủ động đổi mới sáng tạo, phát triển các hệ sinh thái số mở, ứng dụng ngân hàng số thông minh, đưa tiện ích tài chính đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp.

Định danh số - “cửa ngõ” khởi đầu của giao dịch hiện đại

Trong mô hình ngân hàng số, định danh điện tử (eKYC) giữ vai trò của một "cửa ngõ" khởi đầu của mọi giao dịch hiện đại từ mở tài khoản, phát hành thẻ đến cấp tín dụng… đều phụ thuộc vào độ chính xác và tốc độ của bước xác thực danh tính ban đầu. Bốn ngân hàng trình bày trong nhóm chủ đề này cho thấy dù cùng giải một bài toán, mỗi đơn vị lại lựa chọn một biến số ưu tiên khác nhau như tốc độ, tính an toàn, hoặc mức độ cá nhân hóa sau định danh.

ACB lại đặt bài toán tốc độ trong trọng tâm khác. Theo ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) trong kỷ nguyên số, tốc độ cần song hành cùng sự an tâm.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank) đặt định danh số trong mối quan hệ trực tiếp với hệ sinh thái tài chính đi kèm.

Khi được khai thác đúng cách, định số trở thành cơ sở để ngân hàng cá nhân hóa sản phẩm.

Thanh toán số chạm tới mọi “nhịp đập” của đời sống

Nếu định danh số là điều kiện kỹ thuật, thì thanh toán số trở thành nơi giá trị của chuyển đổi số ngành Ngân hàng được trải nghiệm thực tế từ hàng chục triệu lượt người dùng mỗi ngày. Năm câu chuyện trong nhóm chủ đề này không đi theo một mô-típ chung, mà mỗi ngân hàng chọn khai thác một điểm chạm khác nhau trong đời sống từ tiêu dùng thiết yếu, y tế, kinh doanh nhỏ lẻ, đến các giao dịch xuyên biên giới. Điều này cho thấy độ phủ ngày càng sâu của thanh toán số vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở nhóm nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) lựa chọn thị trường xăng dầu - một lĩnh vực có tần suất giao dịch cao nhưng vốn gắn liền với tiền mặt.

Trong khi HDBank giải quyết bài toán tần suất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) lại chọn một lĩnh vực có mức độ nhạy cảm cao hơn là dịch vụ y tế, nơi thời gian chờ đợi thường tỷ lệ thuận với áp lực tâm lý của người bệnh.

Rời khỏi các giao dịch tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) hướng đến nhóm khách hàng đôi khi bị bỏ sót trong các chiến lược số hóa là hộ kinh doanh và tiểu thương.

Và khi ranh giới thanh toán trong nước dần được xóa nhòa, ngân hàng đưa câu chuyện thanh toán số của Việt Nam vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Tín dụng số - dữ liệu thay thế tài sản đảm bảo

Nếu thanh toán số giải quyết bài toán giao dịch hàng ngày, thì tín dụng số lại chạm đến một bài toán khó hơn là làm sao rút ngắn thời gian thẩm định, mở rộng khả năng tiếp cận vốn, mà vẫn kiểm soát được rủi ro tín dụng khi không có đủ tài sản đảm bảo truyền thống.

Điểm chung của bốn câu chuyện trong nhóm chủ đề này là việc lấy dữ liệu thay vì hồ sơ giấy hay tài sản thế chấp làm căn cứ chính để ra quyết định cho vay.

Chuyển sang phân khúc doanh nghiệp, bà Trần Thị Bảo Quế, Thành viên Ban điều hành Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cho biết:

Còn tại Techcombank ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) cho biết, trong hành trình chuyển đổi số, Techcombank xây dựng Data Brain xử lý 8 tỷ điểm dữ liệu mỗi ngày cùng 12.500 thuộc tính cho mỗi khách hàng làm nền tảng cho thẩm định và cấp tín dụng dựa trên dữ liệu.

Từ năng lực đó, Techcombank triển khai giải pháp vay vốn MISA Lending kết hợp với dữ liệu hoá đơn thuế, báo cáo tài chính và thông tin giao dịch từ nền tảng MISA giúp đơn giản hoá thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho khách hàng SME và Micro SME.

Chính sự hợp tác giữa Techcombank và MISA cũng cho thấy vai trò của bên thứ ba công nghệ trong chuỗi giá trị tín dụng số.

Bà Nguyễn Thị Ngoan, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn MISA cho biết, nền tảng MISA Lending như một lớp trung gian dữ liệu, giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh chuyển thông tin kế toán, hóa đơn, dòng tiền trực tiếp đến ngân hàng để phục vụ xét duyệt cho vay theo mô hình "5 phút lập hồ sơ - 1 ngày phê duyệt - 0 tài sản đảm bảo".

Đây được xem là một hướng đi góp phần hạn chế tình trạng tín dụng đen.

Theo bà Ngoan, MISA mong muốn tiếp tục mở rộng hợp tác với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng để đưa dòng vốn đến doanh nghiệp nhanh hơn, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Chính phủ.

Tương lai số đến từ AI - Dữ liệu - An toàn bảo mật

Để các sản phẩm của hành trình chuyển đổi có ngành Ngân hàng vận hành ổn định ở quy mô hàng triệu người dùng, ngành Ngân hàng còn cần một lớp hạ tầng phía sau, đó là năng lực khai thác dữ liệu, ứng dụng AI trong cả vận hành nội bộ lẫn giám sát rủi ro, và cơ chế bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình số hóa. Ba câu chuyện cuối cùng đại diện cho ba khía cạnh khác nhau của lớp nền tảng này.

Nhằm đảm bảo công bằng tiếp cận, ông Đỗ Đức Thành, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đưa ra một góc nhìn khác biệt so với phần lớn các ngân hàng thương mại.

Ở khía cạnh giám sát rủi ro, ông Đinh Văn Chiến, Phó Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng cá nhân, Ngân hàng TMCP Tiên phong (TPBank) đã dẫn chứng vai trò của AI như một tuyến phòng thủ chủ động thay vì bị động phản ứng sau sự cố.

Trong quá trình vận hành nội bộ, ông Trần Công Quỳnh Lân, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết, AI không chỉ phục vụ khách hàng bên ngoài mà còn đang thay đổi cách cán bộ ngân hàng làm việc mỗi ngày.

Thay vì mất nhiều giờ tra cứu báo cáo, cán bộ VietinBank hiện chỉ cần vài chục giây để trợ lý AI phác họa chân dung khách hàng, gợi ý sản phẩm và xây dựng kịch bản chăm sóc phù hợp.

Đây là minh chứng cho một xu hướng rộng hơn: AI trong ngân hàng không còn là công cụ tập trung ở một vài bộ phận công nghệ, mà đang được phân quyền sử dụng tới từng cán bộ nghiệp vụ.

Song việc xuất hiện liên tục các mô hình, giải pháp mới đã đặt ra yêu cầu phải kịp thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phù hợp với thực tiễn. Trong đó nhiều vấn đề phát sinh không chỉ nằm trong phạm vi quản lý của ngành Ngân hàng mà còn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ ngành và các cơ quan liên quan như mô hình đầu tư cho hạ tầng công nghệ và nhân lực cho chuyển đổi số; bảo vệ người dân và niềm tin khách hàng trên các kênh số.

“Chuyển đổi số là một hành trình dài, tiếp bước phát huy những thành quả đã đạt được và vượt qua những thách thức”, ông Phạm Anh Tuấn khẳng định.

Có thể nói, những thành tựu của Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 không chỉ khẳng định vai trò tiên phong của ngành trong kết nối hệ sinh thái số, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và tài chính toàn diện, mà còn cho thấy chuyển đổi số đang bước sang giai đoạn phát triển mới, lấy dữ liệu và trí tuệ nhân tạo làm nền tảng tạo ra giá trị thực.

Dữ liệu không còn là sản phẩm phụ của quá trình vận hành, mà đã trở thành tài sản cốt lõi, còn AI không còn là công nghệ thử nghiệm mà đã đi vào vận hành ở quy mô hàng triệu giao dịch mỗi ngày. Và ở tầng sâu hơn, tốc độ và hiệu quả công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng khả năng tiếp cận công bằng, để những giá trị mà chuyển đổi số ngành Ngân hàng tạo ra lan tỏa đến khắp mọi miền của Tổ quốc, chạm đến mọi hoạt động của người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.

Hương Giang - Trà Giang - Hoàng Giáp

Đồ họa: Lê Thành

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/emagazine-chuyen-doi-so-nganh-ngan-hang-cuoc-chuyen-minh-cua-mot-ha-tang-voi-da-lop-gia-tri-186479.html