EU siết tên gọi sản phẩm thịt từ năm 2029, doanh nghiệp Việt cần làm gì?

Từ năm 2029, một loạt tên gọi quen thuộc liên quan đến thịt sẽ được EU quản lý chặt hơn, buộc doanh nghiệp thực phẩm xuất khẩu phải sớm rà soát cách đặt tên và ghi nhãn sản phẩm.

31 thuật ngữ liên quan đến thịt và sản phẩm thịt

Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia, EU đã ban hành Quy định (EU) 2026/1739, trong đó có bổ sung các quy định mới về việc sử dụng tên gọi liên quan đến thịt và sản phẩm thịt.

Quy định được ban hành ngày 8/7/2026, công bố trên Công báo Liên minh châu Âu ngày 29/7/2026 và có hiệu lực từ 18/8/2026. Tuy nhiên, riêng các quy định mới về tên gọi thịt và sản phẩm thịt tại Điều 1(13) sẽ được áp dụng từ 19/8/2029.

Theo quy định mới, EU bổ sung Phần Ia có tên “Meat and meat products designations” vào Phụ lục VII của Quy định (EU) 1308/2013. Bên cạnh thuật ngữ “meat”, danh sách gồm 31 tên gọi được dành riêng cho thịt và sản phẩm thịt tại tất cả các giai đoạn tiếp thị.

EU sẽ áp dụng quy định mới về tên gọi thịt và sản phẩm thịt từ ngày 19/8/2029, trong đó dành riêng 31 thuật ngữ cho các sản phẩm thuộc nhóm này (Ảnh minh họa).

EU sẽ áp dụng quy định mới về tên gọi thịt và sản phẩm thịt từ ngày 19/8/2029, trong đó dành riêng 31 thuật ngữ cho các sản phẩm thuộc nhóm này (Ảnh minh họa).

Danh sách này gồm các thuật ngữ như beef, veal, pork, poultry, chicken, turkey, duck, goose, lamb, mutton, ovine, goat cùng nhiều tên gọi chỉ bộ phận hoặc sản phẩm thịt như drumstick, tenderloin, sirloin, flank, loin, ribs, shoulder, shank, chop, wing, breast, thigh, brisket, ribeye, T-bone, rump, bacon, steak và liver.

Quy định cũng đặt ra giới hạn đối với việc sử dụng các thuật ngữ trên để gọi những sản phẩm không đáp ứng điều kiện dành cho thịt và sản phẩm thịt. Đây là điểm doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nguồn gốc thực vật cần đặc biệt lưu ý.

Trên thực tế, nhiều sản phẩm thay thế thịt đang sử dụng các tên gọi như “vegan chicken”, “vegetarian beef”, “plant-based pork”, “vegan bacon”, “plant-based steak” hay “vegetarian ribs”. Với quy định mới, doanh nghiệp cần rà soát các tên gọi này trước thời điểm quy định bắt đầu được áp dụng.

Đáng chú ý, việc bổ sung các từ như “vegan”, “vegetarian” hay “plant-based” không mặc nhiên loại bỏ yêu cầu tuân thủ nếu tên sản phẩm vẫn sử dụng những thuật ngữ được EU dành riêng cho thịt và sản phẩm thịt.

 Hàng Việt Nam xuất khẩu sang EU cũng thuộc phạm vi cần lưu ý 

Quy định mới không chỉ áp dụng cho các nhà sản xuất trong EU mà còn liên quan tới hàng hóa được đưa vào thị trường này. Điều khoản chuyển tiếp của Quy định (EU) 2026/1739 đề cập cụ thể tới sản phẩm “imported into the Union”, tức hàng hóa được nhập khẩu vào Liên minh châu Âu.

Đối với các thị trường Bắc Âu là thành viên EU gồm Thụy Điển, Đan Mạch và Latvia, quy định mới sẽ được áp dụng trực tiếp. Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu sang Na Uy và Iceland cần tiếp tục kiểm tra quy định riêng của từng thị trường.

Việc hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA cũng không đồng nghĩa với việc được miễn các yêu cầu của EU về tên gọi, nhãn mác và điều kiện đưa sản phẩm ra thị trường.

Theo khuyến nghị của Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia, doanh nghiệp không nên chỉ kiểm tra tên sản phẩm trên bao bì mà cần rà soát toàn bộ hệ thống nhận diện và tiếp thị.

Doanh nghiệp Việt Nam còn gần 3 năm để rà soát tên sản phẩm, nhãn mác và hệ thống tiếp thị trước khi quy định mới của EU chính thức áp dụng (Ảnh minh họa).

Doanh nghiệp Việt Nam còn gần 3 năm để rà soát tên sản phẩm, nhãn mác và hệ thống tiếp thị trước khi quy định mới của EU chính thức áp dụng (Ảnh minh họa).

Các nội dung cần kiểm tra gồm tên sản phẩm, nhãn hàng hóa, nhãn phụ, bao bì, catalogue, tài liệu bán hàng, website, tên sản phẩm trên sàn thương mại điện tử, nội dung quảng cáo và tài liệu giới thiệu với nhà nhập khẩu, nhà phân phối, hệ thống bán lẻ. Nhãn hiệu hoặc tên dòng sản phẩm có chứa các thuật ngữ nằm trong danh sách được bảo hộ cũng cần được xem xét.

Đối với các sản phẩm như mì ăn liền, gia vị, snack, nước sốt hoặc thực phẩm chế biến sử dụng các từ “beef”, “chicken”, “pork” để mô tả hương vị, doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi hướng dẫn thực thi của EU. Việc sử dụng các thuật ngữ này còn liên quan đến những quy định khác của EU về thông tin thực phẩm và hương liệu. 

Các quy định về tên gọi thịt và sản phẩm thịt sẽ chính thức áp dụng từ ngày 19/8/2029. Theo Điều 4 của Quy định (EU) 2026/1739, những sản phẩm không phù hợp với tên gọi mới nhưng đã được sản xuất tại EU hoặc nhập khẩu vào EU trước thời điểm này được phép tiếp tục đưa ra thị trường cho đến khi hết hàng tồn kho hoặc đến ngày 19/8/2032, tùy thời điểm nào đến trước. 

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, điều này có nghĩa mốc chuyển tiếp cần được tính đến thời điểm hàng hóa được nhập khẩu vào EU, thay vì chỉ căn cứ vào ngày sản xuất tại Việt Nam.

EU cũng trao quyền cho Ủy ban châu Âu ban hành các văn bản ủy quyền để cho phép ngoại lệ đối với một số tên gọi dành riêng cho sản phẩm thịt, trong trường hợp bản chất thực sự của sản phẩm đã rõ ràng do tên gọi được sử dụng lâu dài và không có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Từ nay đến năm 2029, doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu hoặc chuẩn bị đưa sản phẩm thực phẩm vào EU cần chủ động rà soát danh mục hàng hóa, phương án ghi nhãn và hệ thống nhận diện, đồng thời cập nhật các hướng dẫn thực thi và ngoại lệ mới có thể được EU ban hành.

Vũ Việt Anh

Nguồn Người Đưa Tin: https://nguoiduatin.vn/eu-siet-ten-goi-san-pham-thit-tu-nam-2029-doanh-nghiep-viet-can-lam-gi-204260916114718419.htm