FDI thế hệ mới đến, KCN Việt Nam không thể chỉ bán đất
Dòng vốn FDI thế hệ mới đang thay đổi cuộc chơi thu hút đầu tư tại Việt Nam khi nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến đất sạch, giá thuê hay ưu đãi, mà còn đòi hỏi hạ tầng đồng bộ, năng lượng sạch, logistics, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
KCN không chỉ cần đất sạch, hạ tầng tốt mà còn cần mô hình tài chính mới
Tại Hội thảo Khơi dòng tài chính bất động sản khu công nghiệp diễn ra ngày 29/9, TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), cho hay Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển khu công nghiệp (KCN) là động lực quan trọng để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Đặc biệt, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng tăng trưởng cao và bền vững.
“Muốn vậy, chúng ta cần một nền công nghiệp có sức cạnh tranh hơn, hiện đại hơn, xanh hơn. Khu công nghiệp là không gian vật chất để làm điều đó. Đó là nơi những nhà máy mới được xây dựng, công nghệ mới được đưa vào, việc làm được tạo ra và chuỗi cung ứng được hình thành”, TS Lê Minh Nghĩa nói.

TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam. Ảnh: VFCA
Bên cạnh đó, thế giới đang dịch chuyển dòng vốn, dịch chuyển chuỗi cung ứng. Các nhà đầu tư thế hệ mới không chỉ hỏi về giá thuê đất hay ưu đãi thuế. Họ hỏi về hạ tầng đồng bộ, về nguồn điện, nguồn nước, xử lý môi trường, về logistics, về tiêu chuẩn ESG, về tính minh bạch và ổn định của thể chế.
"Nói cách khác, cuộc cạnh tranh thu hút FDI thế hệ mới đang chuyển từ “ưu đãi” sang “chất lượng”: chất lượng hạ tầng, chất lượng thể chế và chất lượng quản trị", ông cho hay.
Đồng quan điểm, TS Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam, đánh giá Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, chất lượng cao hơn và sức cạnh tranh quốc tế cao hơn.
“Trong bối cảnh đó, khu công nghiệp không còn đơn thuần là nơi có đất sạch, nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật”, ông nói.
Theo ông Thắng, khu công nghiệp (KCN) đang dần trở thành nền tảng của một hệ sinh thái sản xuất mới, nơi hội tụ FDI, doanh nghiệp Việt Nam, công nghệ, logistics, năng lượng, nhân lực và tài chính. Vì vậy, câu chuyện tài chính cho KCN hôm nay cũng cần được nhìn nhận theo những cách mới.
Thứ nhất, KCN Việt Nam đang đứng trước một chu kỳ đầu tư mới. Dòng vốn FDI đang thay đổi. Các tập đoàn quốc tế ngày càng quan tâm đến những lĩnh vực như bán dẫn, điện tử, AI, công nghệ số, công nghiệp chính xác, năng lượng sạch, công nghệ xanh, logistics và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, muốn có KCN thế hệ mới, phải có mô hình tài chính thế hệ mới. Đây là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Bởi KCN là lĩnh vực cần nguồn vốn rất lớn, thời gian đầu tư dài và thời gian thu hồi vốn cũng dài.
Trong khi đó, cơ cấu nguồn vốn hiện nay vẫn còn phụ thuộc khá lớn vào tín dụng ngân hàng và những nguồn vốn có kỳ hạn chưa thực sự phù hợp với đặc điểm của đầu tư hạ tầng KCN.
Thứ ba, KCN thế hệ mới không thể phát triển bằng tư duy của KCN truyền thống. Theo ông Thắng, Việt Nam cần chuyển từ mô hình: đất – hạ tầng – nhà xưởng sang mô hình: KCN - FDI - công nghệ - logistics - năng lượng - tài chính - doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ tư, FDI thế hệ mới đòi hỏi KCN phải thay đổi rất nhanh. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý, bởi FDI thế hệ mới sẽ không chỉ mang theo vốn. Nhà đầu tư còn mang theo công nghệ, tiêu chuẩn quốc tế, mạng lưới sản xuất toàn cầu, quản trị, R&D và thị trường.
“Do đó, KCN phải có khả năng đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu: đất sạch – điện sạch – nước sạch – logistics tốt – hạ tầng số – nhân lực chất lượng cao – và môi trường đầu tư minh bạch”, ông Thắng nói.
Thứ năm, cần thay đổi cách tiếp cận quản lý và phát triển KCN. Theo ông Thắng, chúng ta cần chuyển từ tư duy “Phát triển các KCN” sang “Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp". Điều này đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chủ thể.
TS Phan Hữu Thắng cho rằng câu chuyện của KCN Việt Nam trong giai đoạn tới không nên chỉ được đặt ra bằng câu hỏi “Chúng ta sẽ xây thêm bao nhiêu KCN” mà cần đặt ra những câu hỏi lớn hơn: KCN đó tạo ra giá trị gì, thu hút được dòng FDI nào, có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia được vào chuỗi cung ứng, có tạo ra công nghệ, năng suất và nhân lực chất lượng cao hay không?
“Và cuối cùng, câu hỏi cần được đặt ra là: KCN đó có góp phần tạo nên một năng lực công nghiệp mới cho Việt Nam hay không. Đây mới là thước đo quan trọng của KCN trong kỷ nguyên mới”, ông Thắng nhấn mạnh.
Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI vẫn còn hạn chế
Tại hội thảo, TS Phan Hữu Thắng chia sẻ Việt Nam đang đứng trước yêu cầu kép, vừa tăng cường hợp tác, thu hút nguồn lực quốc tế, vừa nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt về công nghệ.

TS Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính khu công nghiệp Việt Nam. Ảnh: VFCA
Vì vậy, bài toán thu hút FDI hiện nay không chỉ nằm ở việc hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Theo ông, đến nay sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI vẫn còn hạn chế, một phần do năng lực của doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, cách tiếp cận đang dần thay đổi. Nếu trước đây doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu cung cấp một số dịch vụ đơn giản cho doanh nghiệp FDI, thì hiện nay đã bắt đầu chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi cung ứng, góp vốn và hình thành các liên doanh.
“Doanh nghiệp liên doanh trong thời gian tới sẽ ngày càng nhiều, thay vì chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đây cũng là cách để doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng cao năng lực”, TS Thắng nói.
Theo ông, điểm yếu hiện nay của doanh nghiệp Việt Nam vẫn là quy mô vốn, nguồn nhân lực và năng lực công nghiệp chất lượng cao. Do đó, cần có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp trong nước đủ khả năng liên kết, liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm quản trị và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
TS Thắng cho biết nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có sự thay đổi khi ngày càng nhiều doanh nghiệp chủ động tìm kiếm cơ hội liên kết với khu vực FDI, thay vì chỉ dừng ở vai trò cung cấp dịch vụ.
“Nếu có sự hỗ trợ phù hợp từ Nhà nước, tôi tin rằng trong khoảng 5 năm tới, việc liên kết, liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài sẽ có bước phát triển nhanh hơn”, ông nhận định.
