Gần 530.000 người nộp thuế ngừng hoạt động trên 10 năm có thể được chấm dứt mã số thuế
Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ đủ 10 năm, không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang được thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Hơn 529.000 người nộp thuế đã ngừng hoạt động trên 10 năm
Tại dự thảo Nghị quyết của Chính phủ ban hành chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế trong thực hiện pháp luật về quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu, Bộ Tài chính đề xuất xem xét chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với người nộp thuế đã ngừng hoạt động kinh doanh nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) hoặc đã được cơ quan thuế xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (trạng thái 06) từ đủ 10 năm trở lên tính đến ngày Nghị quyết có hiệu lực, nếu không có nợ thuế và không thuộc trường hợp đang được thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử.
Trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm công khai thông tin người nộp thuế dự kiến chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên trang thông tin điện tử trong thời hạn 30 ngày. Nếu người nộp thuế không có văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế và cơ quan thuế không nhận được ý kiến phản đối bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, khi hết thời hạn công khai, cơ quan thuế thực hiện chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên Hệ thống thông tin quản lý thuế.
Sau khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế, cơ quan thuế công khai thông tin trên trang thông tin điện tử và chuyển thông tin cho cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã và pháp luật có liên quan.

(Ảnh minh họa)
Theo Bộ Tài chính, tính đến ngày 23/10/2026, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06. Trong đó, trạng thái 03 có 643.383 trường hợp, gồm 211.802 doanh nghiệp, tổ chức và 431.581 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trạng thái 06 có 1.875.057 trường hợp, gồm 861.010 doanh nghiệp, tổ chức và 1.014.047 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Đáng chú ý, có 529.041 người nộp thuế đã ngừng hoạt động hoặc không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ năm 2015 trở về trước, tức trên 10 năm, chiếm 21%.
Trong 10 tháng đầu năm 2026, cơ quan thuế đã giải quyết chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với 777.835 trường hợp, gồm 143.786 doanh nghiệp, tổ chức và 634.049 hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Bộ Tài chính cho rằng, nếu không có chính sách đặc thù hỗ trợ, giảm nghĩa vụ tài chính khi người nộp thuế thực hiện thủ tục khôi phục hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế, việc xử lý số lượng lớn người nộp thuế không còn hoạt động sẽ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng khuyến nghị của Diễn đàn Toàn cầu về giảm số lượng người nộp thuế không hoạt động.
Chi phí tuân thủ có thể lên tới 55 triệu đồng
Theo Bộ Tài chính, một doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong 10 năm, không phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng khi quay lại cơ quan thuế làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế vẫn phải nộp bổ sung các hồ sơ khai thuế còn thiếu, bao gồm cả các kỳ tính thuế trước và sau thời điểm cơ quan thuế xác định doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Giả định doanh nghiệp khai thuế GTGT theo quý, sau 10 năm không hoạt động, số hồ sơ khai thuế tối thiểu phải bổ sung có thể gồm khoảng 40 hồ sơ khai thuế GTGT và 10 hồ sơ quyết toán thuế TNDN. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể phải bổ sung hồ sơ khai thuế TNCN và hồ sơ khai các loại thuế, phí, lệ phí khác nếu có phát sinh theo quy định.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, tùy trường hợp có thể phải bổ sung tờ khai 01/CNKD và 01/TTS nếu có phát sinh. Việc lập, nộp lại số lượng lớn hồ sơ khai thuế trong khi doanh nghiệp không phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh và các chỉ tiêu trên hồ sơ đều bằng 0 làm phát sinh chi phí kê khai đáng kể. Đồng thời, cơ quan thuế cũng tăng khối lượng công việc hành chính khi tiếp nhận, xử lý các hồ sơ không phát sinh nghĩa vụ thuế.
Bên cạnh đó, theo dẫn chứng của Bộ Tài chính, doanh nghiệp có thể phải hoàn tất nghĩa vụ với ngân sách nhà nước với tổng số tiền 55 triệu đồng, gồm 23 triệu đồng tiền xử phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế GTGT, TNDN; 20 triệu đồng lệ phí môn bài nếu thuộc trường hợp phải nộp theo mức 2 triệu đồng/năm; và 12 triệu đồng tiền chậm nộp lệ phí môn bài, tính theo tỷ lệ 0,03%/ngày.
Bộ Tài chính cho rằng, yêu cầu doanh nghiệp lập lại toàn bộ hồ sơ khai thuế không phát sinh của nhiều năm, sau đó xử phạt hành vi chậm nộp từng hồ sơ theo quy định, làm tăng đáng kể chi phí tuân thủ, kéo dài thời gian xử lý và chưa tạo được cơ chế khuyến khích người nộp thuế tự nguyện quay lại hoàn thành thủ tục.
