Gạo giảm phát thải: Lợi thế mới trên thị trường xuất khẩu

Sản xuất lúa giảm phát thải không chỉ là xu hướng mà trở thành điều kiện cạnh tranh. Nhân rộng mô hình là bước đi cần thiết để nâng vị thế gạo Việt trên bản đồ xuất khẩu.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Trưởng Dự án kinh tế nông nghiệp tuần hoàn từ rơm (RiceEco) về hướng đi để nhân rộng mô hình gạo giảm phát thải tại Việt Nam.

Muốn nhân rộng phải giải được "bài toán" lớn

- Thưa ông, sau thời gian triển khai, dự án nông nghiệp tuần hoàn gắn với sản xuất lúa giảm phát thải đã đạt được những kết quả gì nổi bật?

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng:Dự án RiceEco được triển khai từ tháng 2/2023 đến hết tháng 1/2026, tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời thí điểm mở rộng ra một số địa phương miền Trung như Huế. Dù không phải vùng sản xuất lúa trọng điểm, nhưng tại Huế, mô hình kinh doanh từ rơm rạ lại phát triển khá tốt, đặc biệt là sản xuất phân hữu cơ từ rơm.

Xuất khẩu các dòng gạo cao cấp, gạo "xanh" đang được coi là hướng đi bền vững, nâng cao giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cả người trồng lúa cũng được hưởng lợi. Ảnh minh họa

Xuất khẩu các dòng gạo cao cấp, gạo "xanh" đang được coi là hướng đi bền vững, nâng cao giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cả người trồng lúa cũng được hưởng lợi. Ảnh minh họa

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, thành tựu lớn nhất là chúng tôi đã có minh chứng khoa học rõ ràng. Nếu quản lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn, tức là thu gom rơm thay vì đốt ngoài đồng, sử dụng làm nấm rơm, sau đó tận dụng bã nấm để sản xuất phân hữu cơ và quay trở lại đồng ruộng có thể giảm phát thải khí nhà kính trên 30%.

Không chỉ giảm phát thải, thu nhập nông dân cũng tăng đáng kể. Trung bình lợi nhuận từ lúa khoảng 20 - 40 triệu đồng/ha, nhưng nếu áp dụng mô hình thu gom rơm, làm nấm, sản xuất phân hữu cơ, thu nhập có thể tăng thêm 12 - 24%, tương đương hơn 5 triệu đồng/ha.

Tại một số hợp tác xã như Tiến Thuận hay New Farm, mô hình kinh doanh tuần hoàn đã cho thấy hiệu quả rõ ràng. Rơm không còn là phụ phẩm bỏ đi mà trở thành nguồn nguyên liệu có giá trị kinh tế. Đáng chú ý, xuất khẩu các dòng gạo cao cấp, gạo "xanh" đang được coi là hướng đi bền vững, nâng cao giá trị không chỉ cho doanh nghiệp mà cả người trồng lúa cũng được hưởng lợi.

- Theo ông, đâu là điều kiện then chốt để nhân rộng mô hình này?

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng: Có ba yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, minh chứng khoa học và chính sách. IRRI là đối tác kỹ thuật chính trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Khi có cơ sở khoa học vững chắc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương mới có thể ban hành quy trình kỹ thuật, hướng dẫn áp dụng rộng rãi.

Thứ hai, mô hình kinh doanh lúa gạo. Nếu chỉ dừng ở quy mô nhỏ lẻ thì không thể tạo đột phá. Ví dụ, một dây chuyền sản xuất phân hữu cơ có thể đạt công suất 50 tấn/giờ mới đủ quy mô đáp ứng nhu cầu lớn. Nếu chỉ ủ thủ công vài tấn thì không đáng kể so với lượng rơm khổng lồ mỗi vụ.

Thứ ba, kéo cả chuỗi giá trị cùng tham gia. Từ nhà khoa học, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân đến cơ quan quản lý đều phải vào cuộc. Khi nông dân được tập huấn, tận mắt thấy hiệu quả, được hỗ trợ kỹ thuật và có đầu ra ổn định, họ sẽ thay đổi hành vi. Điều quan trọng là sự thay đổi phải xuất phát từ lợi ích kinh tế. Khi có dịch vụ thu mua rơm, nông dân bán được rơm thay vì đốt, họ sẽ tự điều chỉnh hành vi.

Thách thức lớn nhất là thay đổi hành vi

- Ông đánh giá thế nào về vai trò của hợp tác xã trong việc triển khai và mở rộng mô hình?

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng:Hợp tác xã là tác nhân trung tâm. Một hộ nông dân riêng lẻ khó có thể đầu tư nhà trồng nấm quy mô lớn hay dây chuyền sản xuất phân hữu cơ, nhưng hợp tác xã có thể đứng ra tổ chức sản xuất, ký hợp đồng, ứng dụng số hóa, quản trị minh bạch.

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Ảnh: N.H

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI). Ảnh: N.H

Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải hợp tác xã nào cũng hoạt động hiệu quả. Trước đây, tỷ lệ hợp tác xã thành công rất thấp. Ngay hiện nay, vẫn còn nhiều đơn vị gặp khó khăn do xung đột lợi ích, thiếu minh bạch.

Vì vậy, cần nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ số để minh bạch hóa hoạt động. Đồng thời, có chính sách hỗ trợ phù hợp từ địa phương. Khi hợp tác xã vận hành tốt, họ sẽ kéo được nông dân tham gia chuỗi giá trị.

- Trong quá trình nhân rộng, khó khăn lớn nhất là gì, thưa ông?

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng: Khó nhất vẫn là thay đổi hành vi. Không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ đâu, nông dân thường có tâm lý chờ hỗ trợ.

Doanh nghiệp lớn ít mặn mà với mô hình lợi nhuận không cao, trong khi hợp tác xã còn e dè đầu tư. Vì vậy, dự án phải làm các mô hình trình diễn, minh chứng thực tế để thuyết phục.

Thay đổi hành vi cần thời gian. Ba năm dự án chỉ là bước khởi đầu. Nhưng nếu công nghệ chứng minh được hiệu quả, giống như cơ giới hóa trong thu hoạch lúa trước đây từ chỗ khó áp dụng, nay đã phổ biến gần 100%, tôi cho rằng nông dân sẽ chuyển đổi rất nhanh.

Hiện nay, nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đã tiến bộ rõ rệt. Họ tiếp cận drone, cơ giới hóa, ứng dụng kỹ thuật mới nhanh hơn trước rất nhiều. Đó là nền tảng thuận lợi để phát triển sản xuất lúa gạo giảm phát thải.

- Theo ông, cần làm gì để mô hình không “hạ nhiệt” sau khi dự án kết thúc?

PGS.TS Nguyễn Văn Hùng:Phải có sự đầu tư đồng bộ.

Thứ nhất, hạ tầng gồm cơ giới hóa, vận chuyển, hệ thống sấy, thị trường tiêu thụ nấm rơm. Không nhất thiết hỗ trợ trực tiếp cho từng hộ, nhưng cần hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ và kết nối thị trường.

Thứ hai, huy động nguồn lực đa dạng từ ngân sách, doanh nghiệp đến các quỹ quốc tế để cùng tham gia. Việt Nam có thể trở thành điểm tập trung công nghệ cho tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), làm hình mẫu chuyển giao cho các nước trong khu vực.

Thứ ba, chính sách phải theo đặc thù từng vùng. Mỗi địa phương có điều kiện khác nhau, không thể áp dụng một mô hình cứng nhắc.

Cuối cùng, cần đào tạo, nâng cao năng lực cho hợp tác xã, khuyến nông và nông dân. Người nông dân phải được coi là đối tác trong chuỗi giá trị, cùng hợp tác chứ không chỉ là người thụ hưởng.

Việc nhân rộng mô hình lúa gạo giảm phát thải không chỉ là câu chuyện môi trường, mà còn là chiến lược nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi "bài toán" công nghệ, tổ chức sản xuất và lợi ích kinh tế được giải quyết đồng bộ, sản xuất lúa xanh sẽ không còn là thí điểm, mà trở thành xu thế tất yếu của ngành lúa gạo Việt Nam.

- Xin cảm ơn ông!

Nếu được thiết kế và triển khai đúng hướng, gạo phát thải thấp không chỉ là một sản phẩm nông nghiệp, mà còn là giải pháp khí hậu, câu chuyện thương hiệu quốc gia, "chìa khóa" nâng cao sinh kế cho hàng triệu nông dân Việt Nam.

Nguyễn Hạnh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/gao-giam-phat-thai-loi-the-moi-tren-thi-truong-xuat-khau-443051.html