'Gấu bay' Tu-95 trở thành trụ cột lực lượng hạt nhân Liên Xô như thế nào?

Tu-95 biến sức mạnh của một oanh tạc cơ cánh quạt thành công cụ răn đe hạt nhân quan trọng của Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh.

Khi oanh tạc cơ Tu-95 được đưa vào sử dụng từ năm 1956, Liên Xô đã có thêm một phương tiện đủ tầm hoạt động để đưa vũ khí hạt nhân tới những mục tiêu cách xa lãnh thổ nước này.

Khi oanh tạc cơ Tu-95 được đưa vào sử dụng từ năm 1956, Liên Xô đã có thêm một phương tiện đủ tầm hoạt động để đưa vũ khí hạt nhân tới những mục tiêu cách xa lãnh thổ nước này.

Cùng với tên lửa đạn đạo liên lục địa và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, các oanh tạc cơ hạng nặng tạo thành 3 thành phần của lực lượng hạt nhân chiến lược Liên Xô. Tuy nhiên, tên lửa đạn đạo vẫn giữ vai trò chủ lực trong cấu trúc này.

Cùng với tên lửa đạn đạo liên lục địa và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm, các oanh tạc cơ hạng nặng tạo thành 3 thành phần của lực lượng hạt nhân chiến lược Liên Xô. Tuy nhiên, tên lửa đạn đạo vẫn giữ vai trò chủ lực trong cấu trúc này.

Oanh tạc cơ Tu-95 ban đầu có thể mang bom hạt nhân, nhưng vai trò của dòng máy bay này nhanh chóng thay đổi khi công nghệ tên lửa phát triển.

Oanh tạc cơ Tu-95 ban đầu có thể mang bom hạt nhân, nhưng vai trò của dòng máy bay này nhanh chóng thay đổi khi công nghệ tên lửa phát triển.

Một bước ngoặt là oanh tạc cơ Tu-95K và Tu-95KD, được phát triển để mang tên lửa không đối đất Kh-20. Tên lửa này cho phép oanh tạc cơ tấn công từ khoảng cách xa hơn thay vì phải tiếp cận trực tiếp vùng phòng không đối phương.

Một bước ngoặt là oanh tạc cơ Tu-95K và Tu-95KD, được phát triển để mang tên lửa không đối đất Kh-20. Tên lửa này cho phép oanh tạc cơ tấn công từ khoảng cách xa hơn thay vì phải tiếp cận trực tiếp vùng phòng không đối phương.

Tu-95KD còn được trang bị hệ thống tiếp dầu trên không, giúp khắc phục phần nào sự suy giảm tầm bay do trọng lượng và lực cản tăng lên khi mang tên lửa.

Tu-95KD còn được trang bị hệ thống tiếp dầu trên không, giúp khắc phục phần nào sự suy giảm tầm bay do trọng lượng và lực cản tăng lên khi mang tên lửa.

Đến những thập niên sau, oanh tạc cơ Tu-95 tiếp tục được cải tiến để mang tên lửa hành trình.

Đến những thập niên sau, oanh tạc cơ Tu-95 tiếp tục được cải tiến để mang tên lửa hành trình.

Từ đầu những năm 1980, hơn 70 chiếc Tu-95 đã được cải biến để sử dụng tên lửa hành trình phóng từ trên không.

Từ đầu những năm 1980, hơn 70 chiếc Tu-95 đã được cải biến để sử dụng tên lửa hành trình phóng từ trên không.

Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy tác chiến: oanh tạc cơ không nhất thiết phải xuyên qua mạng lưới phòng không đối phương mà có thể phóng vũ khí từ khoảng cách an toàn hơn.

Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy tác chiến: oanh tạc cơ không nhất thiết phải xuyên qua mạng lưới phòng không đối phương mà có thể phóng vũ khí từ khoảng cách an toàn hơn.

Trong thời bình, oanh tạc cơ Tu-95 còn trở thành hình ảnh quen thuộc trên các tuyến tuần tra chiến lược. Máy bay Liên Xô thường hoạt động ở vùng biển quốc tế ngoài khơi Bắc Mỹ, khiến Mỹ và Canada phải duy trì lực lượng tiêm kích đánh chặn.

Trong thời bình, oanh tạc cơ Tu-95 còn trở thành hình ảnh quen thuộc trên các tuyến tuần tra chiến lược. Máy bay Liên Xô thường hoạt động ở vùng biển quốc tế ngoài khơi Bắc Mỹ, khiến Mỹ và Canada phải duy trì lực lượng tiêm kích đánh chặn.

Từ năm 1961 đến 1991, những cuộc chạm trán giữa Tu-95 và máy bay Mỹ, Canada diễn ra hàng nghìn lần.

Từ năm 1961 đến 1991, những cuộc chạm trán giữa Tu-95 và máy bay Mỹ, Canada diễn ra hàng nghìn lần.

Tiêm kích thường áp sát, bay song song để giám sát rồi rời đi khi máy bay Liên Xô ra khỏi khu vực phòng không.

Tiêm kích thường áp sát, bay song song để giám sát rồi rời đi khi máy bay Liên Xô ra khỏi khu vực phòng không.

Ở phía bên kia, Mỹ cũng duy trì một lực lượng tương tự với B-52. Oanh tạc cơ B-52 được đưa vào trực chiến từ giữa thập niên 1950 và trở thành một thành phần quan trọng của lực lượng răn đe hạt nhân Mỹ.

Ở phía bên kia, Mỹ cũng duy trì một lực lượng tương tự với B-52. Oanh tạc cơ B-52 được đưa vào trực chiến từ giữa thập niên 1950 và trở thành một thành phần quan trọng của lực lượng răn đe hạt nhân Mỹ.

Trong giai đoạn cao điểm Chiến tranh Lạnh, các nhiệm vụ trực chiến trên không như Operation Chrome Dome cho phép B-52 mang vũ khí hạt nhân và duy trì máy bay trên không trong thời gian dài.

Trong giai đoạn cao điểm Chiến tranh Lạnh, các nhiệm vụ trực chiến trên không như Operation Chrome Dome cho phép B-52 mang vũ khí hạt nhân và duy trì máy bay trên không trong thời gian dài.

Oanh tạc cơ Tu-95 và B-52 vì thế đại diện cho 2 cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng hướng tới một mục tiêu: duy trì khả năng tấn công hạt nhân đủ xa để đối phương phải tính đến nguy cơ trả đũa.

Oanh tạc cơ Tu-95 và B-52 vì thế đại diện cho 2 cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng hướng tới một mục tiêu: duy trì khả năng tấn công hạt nhân đủ xa để đối phương phải tính đến nguy cơ trả đũa.

Một chiếc mang hình dáng đặc trưng của máy bay cánh quạt, chiếc kia trở thành biểu tượng của thời đại phản lực.

Một chiếc mang hình dáng đặc trưng của máy bay cánh quạt, chiếc kia trở thành biểu tượng của thời đại phản lực.

Nhưng cả 2 đều có chung một nhiệm vụ chiến lược: khiến đối phương hiểu rằng chiến tranh hạt nhân không thể được tiến hành mà không phải trả giá khủng khiếp.

Nhưng cả 2 đều có chung một nhiệm vụ chiến lược: khiến đối phương hiểu rằng chiến tranh hạt nhân không thể được tiến hành mà không phải trả giá khủng khiếp.

Việt Hùng

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/gau-bay-tu-95-tro-thanh-tru-cot-luc-luong-hat-nhan-lien-xo-nhu-the-nao-post670859.antd