Gây dựng thương hiệu mật ong từ cánh rừng ngập mặn

Mô hình nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy tạo sinh kế cho người dân, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và xây dựng thương hiệu mật ong sú vẹt.

Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Giữa những cánh rừng ngập mặn xanh ngút của Vườn quốc gia Xuân Thủy - khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, nghề nuôi ong đang từng bước mở ra hướng sinh kế mới cho người dân vùng đệm.

Không chỉ tạo ra sản phẩm mang hương vị đặc trưng của hệ sinh thái cửa sông Ba Lạt, mô hình nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và từng bước hình thành thương hiệu mật ong gắn với phát triển bền vững.

Đây là nội dung được các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và người nuôi ong trao đổi tại Diễn đàn "Giải pháp phát triển nuôi ong bền vững gắn với thương hiệu sản phẩm" do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Vườn quốc gia Xuân Thủy (Ninh Bình) tổ chức ngày 20-21/7.

Các đại biểu xem xét mật ong sú vẹt, sản phẩm đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao của tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Các đại biểu xem xét mật ong sú vẹt, sản phẩm đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao của tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Theo các chuyên gia, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi ong theo hướng hiện đại và bền vững. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ sinh thái đa dạng cùng nguồn cây cho mật và cây cho phấn phong phú, nghề này đã phát triển ở hầu hết các vùng sinh thái trên cả nước.

Bên cạnh giống ong nội (Apis cerana) có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng phát triển thành công đàn ong ngoại (Apis mellifera) phục vụ sản xuất hàng hóa, đồng thời còn sở hữu nhiều loài ong bản địa có giá trị phục vụ bảo tồn và khai thác sản phẩm đặc sản. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế thông qua sản phẩm mật ong, sáp ong, phấn hoa..., ong còn đóng vai trò quan trọng trong thụ phấn cho cây trồng, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và bảo tồn đa dạng sinh học.

Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy Vũ Quốc Đạt cho biết, đối với Vườn quốc gia Xuân Thủy, hệ sinh thái rừng ngập mặn với nguồn hoa sú, vẹt và nhiều loài thực vật đặc trưng đã tạo nên loại mật ong có màu sắc, hương vị riêng, mang đậm dấu ấn vùng đất ngập nước cửa sông Ba Lạt. Cùng với nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên, vườn luôn xác định tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng vùng đệm là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên; trong đó, nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn đã và đang chứng minh hiệu quả rõ nét.
Từ năm 2025, dưới sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Vườn quốc gia Xuân Thủy triển khai xây dựng và hoàn thiện mô hình nuôi ong ngoại nhằm phát triển thương hiệu "Mật ong sú vẹt". Sau hai năm triển khai, mô hình được thực hiện tại 6 điểm với sự tham gia của 12 hộ dân, năng suất bình quân đạt trên 38 kg mật/đàn/năm. Đây được xem là bước khởi đầu quan trọng trong việc hình thành chuỗi giá trị sản phẩm mật ong gắn với hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Các đại biểu tham quan mô hình khay gỗ để nuôi ong lấy mật. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Các đại biểu tham quan mô hình khay gỗ để nuôi ong lấy mật. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Đến nay, sản phẩm mật ong rừng sú vẹt của Vườn quốc gia Xuân Thủy đã được chứng nhận OCOP 3 sao, được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu chứng nhận và được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2025.

Các chuyên gia chung nhận xét, xây dựng thương hiệu không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm mà còn tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao thu nhập cho người nuôi ong. Tuy nhiên, để thương hiệu phát triển bền vững, điều quan trọng là phải kiểm soát đồng bộ từ chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc đến xây dựng chuỗi liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều lợi thế, nghề nuôi ong vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc còn hạn chế...; khâu quảng bá, xây dựng thương hiệu chưa tương xứng với tiềm năng. Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc thì việc đổi mới phương thức sản xuất trở thành yêu cầu cấp thiết. Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải - Trưởng Phòng Chăn nuôi và Thú y, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho biết, theo định hướng phát triển nghề nuôi ong bền vững đến năm 2030, ngành ong Việt Nam đặt mục tiêu duy trì khoảng 1,3-1,5 triệu đàn ong di chuyển theo nguồn hoa; sản lượng mật ổn định khoảng 55.000-60.000 tấn mỗi năm, trong đó khoảng 80% dành cho xuất khẩu.

Giới thiệu mật ong sú vẹt, sản phẩm đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao của tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Giới thiệu mật ong sú vẹt, sản phẩm đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 3 sao của tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Thái Thuần – TTXVN

Để đạt mục tiêu này, nhiều nhóm giải pháp được đề xuất, từ bảo tồn và chọn tạo giống ong có năng suất, chất lượng cao phù hợp từng vùng sinh thái; điều tra, đánh giá nguồn cây thức ăn; nghiên cứu phát triển thức ăn bổ sung cho ong; đến tăng cường kiểm soát dịch bệnh, xây dựng vùng nuôi an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ cao trong truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Bên cạnh đó, ngành cũng hướng tới mở rộng các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu mật ong nguyên liệu.

Đặc biệt, việc xây dựng cơ sở dữ liệu, áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế; song song với đó là hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ người nuôi ong; tăng cường kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm; xây dựng thương hiệu quốc gia cho mật ong Việt Nam; mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực - bà Hải nhấn mạnh. Thực tế tại Vườn quốc gia Xuân Thủy cho thấy, khi người dân có sinh kế ổn định từ nghề nuôi ong, áp lực khai thác tài nguyên rừng cũng từng bước giảm xuống; không chỉ tạo thêm nguồn thu nhập, mô hình còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng trong bảo vệ rừng ngập mặn, giữ gìn nguồn hoa tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học - yếu tố quyết định chất lượng và sự khác biệt của sản phẩm mật ong. Tại diễn đàn, các chuyên gia nhận định, trong xu hướng tiêu dùng xanh hiện nay, những sản phẩm gắn với bảo tồn thiên nhiên, sản xuất thân thiện với môi trường và có nguồn gốc rõ ràng sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, phát triển nghề nuôi ong không chỉ dừng ở mục tiêu tăng sản lượng mà cần hướng tới xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh, trong đó bảo tồn hệ sinh thái, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng và phát triển thương hiệu là những yếu tố then chốt. Từ mô hình "Mật ong sú vẹt" ở Vườn quốc gia Xuân Thủy có thể thấy, khi chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân cùng đồng hành, nghề nuôi ong hoàn toàn có thể trở thành ngành hàng có giá trị kinh tế cao, góp phần tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng, đồng thời bảo vệ hiệu quả các hệ sinh thái tự nhiên.

Thái Thuần/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/gay-dung-thuong-hieu-mat-ong-tu-canh-rung-ngap-man/429684.html