Giá nông sản hôm nay (17/9): Giá cà phê lao dốc, thịt lợn có xu hướng tăng ở miền Bắc và miền Trung
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 17/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH
Giá lúa gạo hôm nay (17/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, giao dịch mua bán vẫn chậm. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định, còn nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines tiếp tục tạo triển vọng cho xuất khẩu gạo Việt.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.300 - 6.400 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động ở mốc 6.100 - 6.300 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 6.000 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động ở mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg.

Giá gạo lại duy trì ổn định
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mới chậm, nguồn cung đã giảm nhiều, giá lúa vững. Tại An Giang, giao dịch mua bán chậm, giá lúa chững. Tại Cà Mau, nguồn cung lúa về khá, sức mua được duy trì với lúa Đài Thơm 8, giá vững Tại Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, giao dịch mua bán mới ít, giá lúa chững.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.450 - 8.750 đồng/kg. Hiện tấm thơm dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đứng giá. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.500 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam giảm so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn (giảm 5 USD/tấn); gạo Jasmine được chào bán ở mức 532 - 536 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn); gạo thơm 100% tấm dao động từ 367 - 371 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo biến động trái chiều. Cụ thể, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan, giảm 3 USD/tấn dao động 476 - 480 USD/tấn, gạo 100% tấm giảm 6 USD/tấn dao động từ 368 - 372 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo 5% tấm tăng 3 USD/tấn dao động ở mức 374 - 378 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động 308 - 312 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ LAO DỐC
Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm mạnh trở lại sau phiên tăng trước đó. Mặt bằng thu mua hiện dao động trong khoảng 94.000 - 94.700 đồng/kg, giảm 800 - 900 đồng/kg. Đáng chú ý, sau đợt điều chỉnh này, không còn địa phương nào trong nhóm khảo sát giữ được mốc 95.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) giảm 800 đồng/kg, đưa giá cà phê xuống 94.700 đồng/kg, vẫn là mức cao nhất khu vực. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 900 đồng/kg, xuống còn 94.500 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm mạnh
Lâm Đồng cũng giảm 900 đồng/kg, hiện được thương lái thu mua ở mức 94.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.
Trên thị trường thế giới, hai chủng loại cà phê chính cũng quay đầu giảm. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng tháng 11/2026 giảm 1,53%, tương đương 54 USD/tấn, xuống còn 3.481 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm mạnh hơn 1,85%, tương đương 65 USD/tấn, xuống 3.450 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tháng 12/2026 giảm 2,35%, tương đương 6,85 US cent/pound, còn 283,65 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 2,22%, xuống 275,05 US cent/pound.
GIÁ TIÊU ĐI NGANG
Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang, duy trì mặt bằng thu mua trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ngay sau với giá thu mua 140.000 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu được duy trì ở mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng đứng ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.
Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tại các nước sản xuất lớn cũng không thay đổi so với phiên trước.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 6.939 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá 5.750 USD/tấn, thấp nhất trong các nguồn cung lớn được khảo sát, trong khi tiêu đen Malaysia đứng ở mức 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l được giao dịch trong khoảng 6.070 - 6.130 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, tiêu Muntok của Indonesia giữ mức 9.500 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt đạt 8.450 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH
Trong nước, giá cao su tại các doanh nghiệp tiếp tục duy trì ổn định. Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng giao tháng 10 ở mức 457,80 Yên/kg, giảm 1,40%. Hợp đồng giao tháng 11 ở mức 430 Yên/kg, giảm 1,91%.
Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) giảm 0,6 Baht (0,6%) về mức 92,14 Baht/kg.
Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên hợp đồng giao tháng 9 ở mức 17.900 Nhân dân tệ/tấn, giảm 1,54%. Hợp đồng giao tháng 10 ở mức 17.880 Nhân dân tệ/tấn, giảm 1,57%.
Hợp đồng cao su butadien giao tháng 10 được giao dịch nhiều nhất trên SHFE lao dốc 565 Nhân dân tệ, tương đương 3,72%, còn 14.610 Nhân dân tệ/tấn.
Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 235,40 Cent/kg, giảm 1,22%. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11 ở mức 235,10 Cent/kg, giảm 0,80%.
Diễn biến trên các sàn giao dịch cho thấy áp lực bán đang chiếm ưu thế trên thị trường cao su châu Á. Trên sàn SHFE suy yếu ở toàn bộ các kỳ hạn, với mức giảm từ 1,54% - 1,57%; SGX giảm nhưng biên độ thu hẹp dần ở các hợp đồng xa; sàn TOCOM cũng theo xu hướng giảm từ 1,40% - 1,91%. Trong ngắn hạn, giá cao su có thể tiếp tục rung lắc do lực bán trên thị trường.
Theo các nhà phân tích tại Chaos Ternary Futures Research Institute, lượng cao su thiên nhiên thu mua bình quân của các nhà sản xuất lốp xe đã giảm trong tuần qua trong bối cảnh chi phí nguyên liệu tăng, trong khi phần lớn doanh nghiệp duy trì trạng thái kiểm soát sản xuất.
GIÁ THỊT LỢN CÓ XU HƯỚNG TĂNG
Tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay ở Cao Bằng và Hà Nội cùng tăng 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, giá lợn hơi tại Cao Bằng đạt 59.000 đồng/kg, còn Hà Nội tăng lên 60.000 đồng/kg.
Như vậy, Hà Nội đã cùng Hưng Yên trở thành hai địa phương có giá lợn hơi cao nhất cả nước, đạt 60.000 đồng/kg.
Tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La, Lạng Sơn và Cao Bằng, giá lợn hơi cùng được duy trì ở mức 59.000 đồng/kg.
Hai địa phương còn lại là Lào Cai và Điện Biên tiếp tục giao dịch ở mức thấp nhất khu vực, đạt 58.000 đồng/kg.
Những phiên gần đây cho thấy thị trường miền Bắc bắt đầu xuất hiện tín hiệu tăng trở lại. Ngày 16/9, Hưng Yên tăng lên 60.000 đồng/kg và Lạng Sơn đạt 59.000 đồng/kg. Sang phiên hôm nay, Hà Nội tiếp tục gia nhập nhóm 60.000 đồng/kg.
Mặc dù mức tăng mới chỉ xuất hiện cục bộ, việc mốc 60.000 đồng/kg mở rộng từ một lên hai địa phương cho thấy mặt bằng giá phía Bắc đang có dấu hiệu nhích lên sau giai đoạn điều chỉnh giảm trước đó.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay nhìn chung vẫn tương đối ổn định. Đắk Lắk là địa phương duy nhất tăng 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 58.000 đồng/kg.
Sau điều chỉnh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lâm Đồng cùng giao dịch ở mức 58.000 đồng/kg. Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Khánh Hoà tiếp tục giữ mức 57.000 đồng/kg.
Như vậy, mặt bằng giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên vẫn dao động trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg, thấp hơn khu vực phía Bắc.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay chưa xuất hiện biến động mới. Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg.
Cà Mau tiếp tục đứng ở mức 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực và cũng thuộc nhóm thấp nhất trên cả nước.
Nhìn chung, thị trường lợn hơi hôm nay vẫn tương đối ổn định. Tuy nhiên, những điều chỉnh tăng liên tiếp tại một số địa phương miền Bắc đang trở thành điểm đáng chú ý.
Hiện khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất trên thị trường là 3.000 đồng/kg. Hà Nội và Hưng Yên cùng đạt 60.000 đồng/kg, trong khi mức thấp nhất 57.000 đồng/kg vẫn xuất hiện tại nhiều địa phương miền Trung - Tây Nguyên và Cà Mau.
So với giai đoạn cuối tuần trước, khi mốc 60.000 đồng/kg hoàn toàn biến mất, thị trường đã phần nào khởi sắc. Dù vậy, phần lớn địa phương vẫn giữ nguyên giá, vì thế cần thêm các phiên giao dịch để xác định liệu xu hướng tăng có lan rộng hay không.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
