Giá nông sản hôm nay (20/4): Giá cà phê tiếp đà lao dốc, hồ tiêu phục hồi
Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 20/4, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.800 - 6.100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 5.800 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay giá ít biến động. Tại An Giang, lúa thơm nông dân neo giá cao, các loại khác vững giá, thương lái chốt mua mới ít. Tại Cà Mau, lúa đang chín nhiều, giá lúa thơm và ST ít biến động. Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Tây Ninh, Vĩnh Long, giao dịch mua bán chậm, giá ít biến động.
Tương tự với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.000 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 460 - 465 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 333 - 337 USD/tấn; gạo Jasmine dao động ở mức 454 - 458 USD/tấn.
Trong ngắn hạn, giá gạo được dự báo có xu hướng tăng khi nguồn cung bước vào giai đoạn chuyển tiếp giữa vụ Đông Xuân (kết thúc cuối tháng 5) và vụ Hè Thu (bắt đầu từ tháng 6).
Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 378 - 382 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 357 - 361 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo giữ ổn định, với gạo 5% tấm chào bán quanh mức 336 - 340 USD/tấn và gạo 100% tấm ở mức 284 - 288 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ
Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy, giá cà phê hôm nay dao động trong khoảng 84.500 - 85.200 đồng/kg, giảm 600 - 700 đồng/kg so với tuần trước. Đây là tuần giảm thứ 4 liên tiếp, kéo mặt bằng giá về vùng thấp nhất trong gần một tháng qua.
Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất, dù đã giảm 600 đồng/kg, xuống còn 85.200 đồng/kg. Trong khi đó, Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giảm mạnh hơn, 700 đồng/kg, hiện giao dịch quanh mốc 85.000 đồng/kg.
Tại Lâm Đồng, giá cà phê giảm xuống còn 84.500 đồng/kg, thấp nhất thị trường. Diễn biến này cho thấy áp lực giảm vẫn lan rộng, bất chấp việc nguồn cung không quá dư thừa.
Trái ngược với xu hướng trong nước, giá cà phê Robusta trên thị trường quốc tế lại tăng nhẹ trong tuần qua. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 5/2026 đóng cửa ở mức 3.388 USD/tấn, tăng 1,9% so với tuần trước. Hợp đồng tháng 7/2026 cũng tăng 0,7%, đạt 3.263 USD/tấn.
Ở chiều ngược lại, trên sàn New York, giá cà phê Arabica lại giảm khá mạnh. Hợp đồng tháng 5/2026 giảm 3,6%, xuống còn 289,3 US cent/pound, trong khi hợp đồng tháng 7/2026 giảm gần 4%.
GIÁ TIÊU
Khảo sát sáng 20/4 cho thấy giá tiêu trong nước dao động quanh mức 139.000 - 141.000 đồng/kg. So với phiên trước, thị trường nhìn chung đi ngang, riêng Gia Lai giảm nhẹ 500 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đồng), giá tiêu tiếp tục duy trì ở mức cao nhất là 141.000 đồng/kg. Đây cũng là hai địa phương ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong tuần, lần lượt khoảng 1.500 - 2.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đông Nam Bộ, Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) và Đồng Nai cũng tăng khoảng 1.500 đồng/kg so với tuần trước, hiện giao dịch quanh mốc 140.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Gia Lai có mức tăng khiêm tốn hơn, khoảng 1.000 đồng/kg trong cả tuần nhưng trong phiên gần nhất lại điều chỉnh giảm nhẹ về mức 139.500 đồng/kg.
Nhìn chung, dù có những nhịp điều chỉnh ngắn hạn, giá tiêu vẫn duy trì xu hướng tăng theo tuần. Diễn biến này phần nào phản ánh việc nguồn cung từ vụ thu hoạch đang dần cạn, trong khi lực mua bắt đầu quay trở lại.
Trái ngược với diễn biến trong nước, thị trường hồ tiêu thế giới tuần qua ghi nhận xu hướng giảm tại một số quốc gia sản xuất lớn.
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm khoảng 0,44% trong tuần, xuống còn 7.043 USD/tấn.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giảm mạnh hơn, tới 2,44%, tương đương 150 USD/tấn, xuống còn 6.000 USD/tấn. Trong khi đó, Malaysia tiếp tục giữ giá ổn định ở mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia cũng ghi nhận mức giảm nhẹ, xuống còn 9.279 USD/tấn. Trong khi đó, Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nguyên mức giá lần lượt là 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
GIÁ CAO SU
Trong nước, giá cao su tiếp tục duy trì trạng thái ổn định tại đa số doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn như MangYang, Bình Long, Bà Rịa, Phú Riềng giữ nguyên mức giá thu mua mủ nước và mủ tạp, thể hiện sự chủ động điều tiết sản lượng và giá thu mua trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động mạnh.
Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch, giá cao su ghi nhận diễn biến trái chiều giữa hai sàn chủ chốt. Trên sàn TOCOM (Tokyo), giá cao su RSS3 đồng loạt đi xuống ở các kỳ hạn giao hàng. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 4/2026 giảm 4 Yên/kg (- 1,05%), xuống mức 375 Yên/kg; hợp đồng tháng 5/2026 giảm 3.70 Yên/kg (- 0,96%), xuống mức 378 Yên/kg.
Trong khi đó, trên sàn SHFE (Thượng Hải), giá cao su tự nhiên lại duy trì đà đi lên ở phần lớn các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng tháng 5/2026 tăng 35 Nhân dân tệ/tấn (+ 0,21%), lên mức 16.535 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 6/2026 tăng Nhân dân tệ/tấn (+ 0,12%), lên mức 16.555 Nhân dân tệ/tấn.
Theo Reuters, giá cao su châu Á giảm trong phiên cuối tuần khi thị trường đón nhận tín hiệu nguồn cung ổn định hơn. Tại Nhật Bản, hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9/2026 trên Sàn Osaka giảm 1,57% xuống 387,5 Yên/kg, ghi nhận tuần giảm thứ hai liên tiếp.
Áp lực chính đến từ phía cung khi điều kiện thời tiết tại Trung Quốc được cải thiện. Báo cáo của Huatai Futures cho thấy, lượng mưa đã giúp giảm lo ngại hạn hán, qua đó hỗ trợ hoạt động khai thác mủ cao su.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay giá duy trì ổn định tại tất cả các địa phương. Cụ thể, giá lợn tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cùng giữ mức 64.000 đồng/kg. Hải Phòng, Bắc Ninh và Hà Nội duy trì mức 65.000 đồng/kg. Hưng Yên tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất khu vực với 66.000 đồng/kg, trong khi Lai Châu giữ mức thấp nhất là 63.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 63.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay ghi nhận nhiều điểm tăng. Cụ thể, giá lợn tại Thanh Hóa, Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng cùng tăng 1.000 đồng/kg. Sau điều chỉnh, Thanh Hóa và Gia Lai đạt 65.000 đồng/kg; Khánh Hòa lên mức 65.000 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tăng lên 69.000 đồng/kg.
Ở chiều đi ngang, giá lợn ở Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi cùng giữ mức 64.000 đồng/kg. Hà Tĩnh duy trì mức 63.000 đồng/kg, Đắk Lắk tiếp tục neo tại 68.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 63.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay không có biến động mới. Cụ thể, giá lợn tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Long cùng duy trì mức 69.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Cà Mau giữ mức 68.000 đồng/kg. An Giang và Cần Thơ tiếp tục ổn định tại mức 67.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 67.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.











