Đề xuất quy định MIỄN THUẾ thu nhập doanh nghiệp; sửa đổi mức doanh thu không phải nộp thuế thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh
Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp; sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng.

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng. Trong đó, Bộ Tài chính đề xuất: Sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng; bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp.
Điều chỉnh chính sách thuế đối với các hộ kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ là cần thiết
Theo dự thảo tờ trình của Bộ Tài chính việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế Giá trị gia tăng có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý, cơ sở thực tiễn.
Cụ thể, về cơ sở chính trị, việc sửa đổi các luật trên nhằm thực hiện quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị đã đặt ra tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân:
"Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài; cần được cụ thể hóa trong các chiến lược, chính sách phát triển của đất nước; nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh, tăng cường đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý về kinh doanh cá thể; thu hẹp tối đa sự chênh lệch, tạo mọi điều kiện thuận lợi về tổ chức quản trị và chế độ tài chính, kế toán để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Đẩy mạnh số hóa, minh bạch hóa, đơn giản hóa, dễ tuân thủ, dễ thực hiện đối với chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm... để khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Xóa bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ kinh doanh chậm nhất trong năm 2026.
… Đến năm 2030 phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân.
Thực hiện Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa XIVvề Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số", trong đó có nêu một trong những nhiệm vụ và giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 là "Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ; có chính sách phù hợp, tạo môi trường minh bạch, thuận lợi, an toàn để doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận bình đẳng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực" và "Giao Chính phủ chủ động điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp"…
Về cơ sở pháp lý, khoản 1 Điều 7 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 quy định: Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 149/2025/QH15) quy định hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Về cơ sở thực tiễn, dự thảo tờ trình của Bộ Tài chính cho biết, ngay từ đầu năm 2026, xung đột Trung Đông đã làm giá nhiên liệu trong nước tăng cao, ảnh hướng trực tiếp đến đời sống của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là các hộ kinh doanh, doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Để góp phần bình ổn giá cả, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định tâm lý của người dân và doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã khẩn trương chủ động tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành theo thẩm quyền và trình cấp có thẩm quyền ban hành đồng loạt các chính sách tài khóa như thuế, phí, ngân sách và bước đầu đã có những tác động tích cực đến kinh tế trong nước.
Tuy nhiên, do giá nhiên liệu là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của sản xuất, kinh doanh nên qua theo dõi, Bộ Tài chính nhận thấy có thể tiếp tục phải nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế đối với các hộ kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ, vì đây là những đối tượng mà khả năng chống chịu trước những biến động là không cao và cần hỗ trợ trước hết để đảm bảo ổn định xã hội, qua đó ổn định tâm lý để yên tâm sản xuất, kinh doanh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XVI đã đề ra.
Đối với cá nhân kinh doanh, ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15, ngày 11/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 149/2025/QH15.
Trong đó đã điều chỉnh nâng mức doanh thu năm không phải nộp thuế của cá nhân kinh doanh từ 100 triệu đồng lên 500 triệu đồng (tăng 5 lần so với chính sách trước đó), nâng mức doanh thu của hộ, cá nhân kinh doanh không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng.
Đề xuất này được tính toán kỹ lưỡng tại thời điểm Chính phủ trình Quốc hội và được các cơ quan, Đại biểu Quốc hội đồng tình.
Bên cạnh đó, thể chế hóa Nghị quyết 68-NQ/TW, chính sách quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã được định hướng chuyển đổi căn bản bằng việc quy định bãi bỏ phương pháp khoán sang phương pháp kê khai, áp dụng từ ngày 01/01/2026.
Trong giai đoạn đầu triển khai, phát sinh hiện tượng một số hộ kinh doanh có xu hướng hạn chế thanh toán không dùng tiền mặt, ưu tiên giao dịch tiền mặt nhằm che giấu doanh thu.
Ngoài ra, còn do tâm lý che dấu doanh thu để trốn thuế và sợ bị phát hiện ra doanh thu đã không kê khai trước đây mặc dù tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP đã khẳng địnhcơ quan thuế không sử dụng doanh thu khai thuế năm 2026 để xác định lại nghĩa vụ thuế các năm trước, không xử phạt vi phạm hành chính đối với các nghĩa vụ thuế đã thực hiện theo phương pháp khoán.
Tuy nhiên, đây có thể chỉ là là xu hướng mang tính ngắn hạn, phát sinh do tâm lý cảnh giác ban đầu với chính sách mới.
Theo quy định của pháp luật, cũng như chỉ đạo của Chính phủ, yêu cầu và xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đang ngày càng phổ biến, có tính ổn định. Việc này xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng thanh toán số (QR code, ví điện tử, ngân hàng số) với chi phí thấp, thuận tiện; thói quen tiêu dùng của đại bộ phận người dân cũng đã thay đổi, đặc biệt trong thương mại điện tử và dịch vụ; yêu cầu minh bạch hóa giao dịch trong chuỗi cung ứng, logistics, nền tảng số; sự tham gia của các tổ chức trung gian thanh toán và hệ sinh thái số (ngân hàng, ví điện tử, sàn thương mại điện tử).
Vì vậy, có thể thấy, xu thế thanh toán không dùng tiền mặt là tất yếu, việc một bộ phận hộ cá nhân kinh doanh cố tình thanh toán tiền mặt là biểu hiện của hành vi trốn, tránh thuế cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng.
Hiện nay, Bộ Tài chính đã chỉ đạo cơ quan Thuế tăng cường quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế, bao gồm: phân tích dữ liệu lớn (big data) từ hóa đơn điện tử, dòng tiền, sàn thương mại điện tử; đối chiếu thông tin thanh toán qua ngân hàng, trung gian thanh toán; xây dựng mô hình đánh giá rủi ro tuân thủ theo ngành nghề, quy mô, hành vi giao dịch.
Với các công cụ này, việc che giấu doanh thu thông qua giao dịch tiền mặt sẽ ngày càng khó thực hiện và tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao đối với người nộp thuế.
Bộ Tài chính cho rằng, trong bối cảnh năm 2026 chi phí đầu vào gia tăng, sức mua suy giảm và hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh còn nhiều khó khăn, việc điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của cá nhân để tiếp tục hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp, vừa nhằm hỗ trợ duy trì hoạt động, đặc biệt đối với các ngành nghề có biên lợi nhuận thấp và chịu tác động lớn từ biến động chi phí.
Đối với doanh nghiệp, ngày 14/6/2025 Quốc hội đã ban hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.
Trong đó, quy định nhiều chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ như: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp có quy mô không quá 50 tỷ đồng thành lập mới từ hộ kinh doanh.
Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng áp dụng thuế suất 15%. Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ đồng áp dụng thuế suất 17%.
Quy định này áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2025.
Ngoài ra, tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã quy định nhiều chính sách thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp như:
"1. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo củ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức trung gian hỗ tợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
2. Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
3. Miễn thuế thu nhập doanh nghệp nhỏ và vừa trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
4. Chi phí đào tạo và đào tạo lại nhân lực của doanh nghiệp lớn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.".
Thực hiện thẩm quyền được giao tại các Nghị quyết nêu trên, ngày 15/01/2026 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15.
Tuy nhiên Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp chưa có quy định ngưỡng thu nhập được miễn thuế (không xác định thời hạn miễn) đối với doanh nghiệp nhỏ như mức ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh.
Theo đó, để hỗ trợ hơn nữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ vượt qua khó khăn, đồng thời để đảm bảo đồng bộ với việc nâng mức doanh thu không phải nộp thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh thì cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Bộ Tài chính cho rằng, việc điều chỉnh đồng bộ ngưỡng thu nhập được miễn thuế của doanh nghiệp quy mô nhỏ với ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế của hộ, cá nhân kinh doanh cũng là để đảm bảo công bằng trong chính sách.
Qua đó giúp cho người nộp thuế lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp, góp phần khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp với chế độ quản trị chuyên nghiệp và có nhiều điều kiện để nâng cao hơn nữa quy mô, hiệu quả kinh doanh.
Quy định này cũng là để thể chế hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW, trong đó đặt ra mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân.
Theo Bộ Tài chính, căn cứ các nội dung nêu trên, cần thiết sửa đổi quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng nhằmhoàn thiện quy định về chính sách thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh nhằm khuyến khích, tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp, cá nhân từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế.
BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
Phạm vi điều chỉnh: Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng.
Đối tượng áp dụng của Luật này bao gồm:
1. Người nộp thuế quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng.
2. Cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
3. Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Bố cục dự thảo Luật gồm 4 Điều như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15
Điều 3. Bổ sung khoản 14b vào Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15
Điều 4. Hiệu lực thi hành
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ THẢO LUẬT
Sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng
Nội dung quy định về thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng tại Điều 1 và Điều 2 dự thảo Luật: Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Trong đó đã nâng mức doanh thu không phải nộp thuế của cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm.
Đồng thời tại Luật số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã nâng mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng lên 500 triệu đồng/năm.
Qua rà soát chính sách thuế và thực trạng công tác quản lý thu hiện hành đối với hộ, cá nhân kinh doanh, Bộ Tài chính nhận thấy bên cạnh việc tăng cường quản lý để đảm bảo minh bạch, thu đúng, thu đủ thì việc nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh trong điều kiện kinh tế trong nước có nhiều biến động so với thời điểm ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (cuối năm 2025) là cần thiết để đảm bảo chính sách thuế khoa học, phù hợp với xu thế phát triển kinh tế số, và có tính đến khả năng đáp ứng của người nộp thuế với tỷ lệ động viên hợp lý, giúp người nộp thuế không muốn và không thể tìm các biện pháp trái pháp luật để trốn, tránh thuế.
Mặc dù Chính phủ đã sử dụng nhiều giải pháp để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, tuy nhiên tình hình thế giới vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Chi phí đầu vào gia tăng, sức mua suy giảm và hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ, cá nhân kinh doanh tiếp tục gặp nhiều khó khăn.
Theo đó để hỗ trợ cá nhân phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là những hộ, cá nhân có quy mô nhỏ (những đối tượng yếu thế), đồng thời khuyến khích cá nhân chuyển lên doanh nghiệp như chủ trương tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, trên cơ sở đánh giá tác động (cân đối giữa tác động giảm thu ngân sách với việc tạo điều kiện để hộ kinh doanh có nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định tâm lý xã hội), Bộ Tài chính đề xuất phương án điều chỉnh như sau: Sửa đổi quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và mức doanh thu không chịu thuế GTGT tại khoản 25 Điều 5 của Luật Thuế GTGT theo hướng không quy định mức cụ thể tại Luật và giao Chính phủ quy định mức này.
Theo Bộ Tài chính, quy định này giúp cho Chính phủ có đủ cơ sở pháp lý để điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, trong đó có chính sách thuế và cũng là thể chế hóa nội dung "Giao Chính phủ chủ động điều chỉnh các loại thuế, phí trong trường hợp khẩn cấp" tại Kết luận số 18-KL/TW.
Nội dung cụ thể như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 như sau:
"1. Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm dưới mức quy định của Chính phủ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân".
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 7 như sau:
"4. Cá nhân cho thuê bất động sản, trừ hoạt động kinh doanh lưu trú, nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định bằng phần doanh thu từ hoạt động cho thuê bất động sản vượt trên mức quy định của Chính phủ nhân (x) với thuế suất 5%.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung khoản 25 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15 như sau:
"25. Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm dưới mức quy định của Chính phủ; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.".
Bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp
Nội dung quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Điều 3 dự thảo Luật: Theo Bộ Tài chính, ở nước ta hiện nay số lượng doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và đang giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế cũng như ổn định xã hội.
Trong tổng số khoảng 900 nghìn doanh nghiệp đã được thành lập và hoạt động thì số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm gần 94%.
Xác định nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ luôn là đối tượng cần phải có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển đồng thời cũng là nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài cho ngân sách nhà nước.
Qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế cho thấy doanh nghiệp có quy mô nhỏ vẫn luôn là mục tiêu trọng tâm của các chính sách phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia.
Chính phủ nhiều nước đã thông qua các chính sách và chương trình hỗ trợ trên nhiều phương diện khác nhau nhằm tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Trong đó chính sách hỗ trợ về thuế cũng là công cụ thường được các nước sử dụng theo hướng quy định mức thuế suất ưu đãi (có thể là mức thuế suất cố định hoặc mức thuế suất lũy tiến theo quy mô thu nhập) dành cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Thực tế là phần lớn các nước áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất phổ thông hoặc quy định miễn thuế cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Việc đề xuất áp dụng các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có quy mô nhỏ cần phải dựa trên nguyên tắc: hỗ trợ đúng, trúng đối tượng để đạt được lợi ích kinh tế - xã hội cao nhất, tránh dàn trải, làm giảm hiệu quả của chính sách khuyến khích, hỗ trợ, đặc biệt trong bối cảnh việc cơ cấu lại ngân sách nhà nước tiếp tục được đặt ra.
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 đã quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 02 năm liên tục kể từ khi có thu nhập chịu thuế đối với doanh nghiệp có quy mô không quá 50 tỷ đồng thành lập mới từ hộ kinh doanh; áp dụng mức thuế suất thấp hơn đối với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm không quá 03 tỷ đồng (thuế suất 15%); và doanh nghiệp có tổng doanh thu năm từ trên 03 tỷ đồng đến không quá 50 tỷ (thuế suất 17%).
Tuy nhiên chưa có quy định miễn thuế đối với doanh nghiệp nhỏ như hộ, cá nhân kinh doanh.
Do đó, để đồng bộ với việc miễn thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh thì cần bổ sung quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có doanh thu theo mức quy định của Chính phủ.
Cụ thể như sau:
Điều 3. Bổ sung khoản 14b và Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15 như sau:
"14b. Thu nhập của doanh nghiệp có tổng doanh thu năm dưới mức quy định của Chính phủ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.".
Tại khoản 15 Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đã quy định: "15. Chính phủ quy định chi tiết Điều này", căn cứ quy định này tại Nghị định Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc xác định doanh thu làm căn cứ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.
Để hỗ trợ cho doanh nghiệp, cá nhân có thể áp dụng chính sách ngay, Bộ Tài chính đề xuất quy định của Luật được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Miễn thuế nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, cá nhân mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Theo Bộ Tài chính với nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung 03 Luật nêu trên, trường hợp Chính phủ ban hành văn bản quy định nâng mức doanh thu năm không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân lên trên mức 500 triệu đồng/năm và bổ sung mức doanh thu miễn thuế đối với doanh nghiệp quy mô nhỏ thì ngân sách có thể giảm thu nhưng về lâu dài, khi doanh nghiệp và cá nhân phát triển sẽ đóng góp trở lại cho ngân sách ổn định và bền vững hơn.
Về tác động đến tăng trưởng kinh tế, trường hợp quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và quy định nâng mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, không chịu thuế giá trị gia tăng của cá nhân kinh doanh nhằm hỗ trợ, giảm nghĩa vụ cho doanh nghiệp, cá nhân có nguồn lực để sản xuất, mở rộng quy mô, tăng năng suất, từ đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đối với người dân: Trong bối cảnh lạm phát và chi phí đầu vào tăng, việc nâng ngưỡng doanh thu giúp cá nhân kinh doanh giữ lại một phần thu nhập lớn hơn, tăng vốn để sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy những hộ kinh doanh có quy mô nhỏ phát triển, nhất là trong thời gian đầu thành lập.
Đối với doanh nghiệp: Doanh nghiệp được giảm đáng kể chi phí nghĩa vụ thuế, để lại khoản lợi nhuận để tái đầu tư, mở rộng sản xuất…Qua đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng khả năng phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.











