Giá nông sản ngày 16/4: Cà phê và hồ tiêu đồng loạt tăng

Giá cà phê nội địa tăng 600 đồng/kg, hồ tiêu tiếp tục đi lên quanh ngưỡng 140.000 - 141.000 đồng/kg, trong khi thị trường lúa gạo trong nước duy trì ổn định và xuất khẩu không biến động.

Giá cà phê trong nước tăng mạnh

Trên thị trường nội địa, giá cà phê hôm nay ghi nhận mức tăng đồng loạt 600 đồng/kg, phổ biến trong khoảng 87.100 - 87.200 đồng/kg. Sau khi tăng thêm 600 đồng/kg, Lâm Đồng vươn lên dẫn đầu khu vực với mức giá đạt 87.200 đồng/kg.

Cùng xu hướng đi lên, Đắk Lắk và Gia Lai đều ghi nhận mức tăng 600 đồng/kg, đưa giá cà phê tại hai địa phương này lên 87.100 đồng/kg.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Trên thị trường quốc tế, xu hướng tăng của giá cà phê thể hiện rõ rệt, đặc biệt nổi bật ở dòng robusta.

Theo số liệu mới cập nhật, hợp đồng cà phê robusta giao tháng 5-2026 trên sàn London tăng mạnh 3,19%, đạt 3.458 USD/tấn, trong khi kỳ hạn tháng 7 cũng tăng gần 3% lên 3.351 USD/tấn.

Đối với sàn New York, giá cà phê arabica có mức tăng nhẹ hơn khi hợp đồng tháng 5-2026 nhích 0,6% lên 302,65 US cent/pound và hợp đồng tháng 7-2026 tăng 0,46% đạt 297,6 US cent/pound.

Giá hồ tiêu tiếp đà tăng

Tại các vùng trọng điểm, giá hồ tiêu trong nước hôm nay tăng từ 500 - 1.000 đồng/kg. Sau khi tăng 500 đồng/kg, giá hồ tiêu tại Gia Lai được nâng lên mức 140.000 đồng/kg. Tăng thêm 1.000 đồng/kg, giá tiêu tại TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai cùng đạt ngưỡng 140.000 đồng/kg.

Giữ vị trí cao nhất thị trường, hồ tiêu tại Đắk Lắk và Lâm Đồng tăng thêm 1.000 đồng/kg, lên mức 141.000 đồng/kg.

Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế trên thị trường toàn cầu, giá tiêu đen Indonesia giảm nhẹ 5 USD/tấn, còn 7.065 USD/tấn.

Nhìn chung, tại các quốc gia sản xuất lớn khác, giá tiêu ít biến động khi tiêu đen Brazil ASTA 570 duy trì ở mức 6.150 USD/tấn và tiêu đen Malaysia ổn định ở 9.300 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu tiếp tục đi ngang trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu Muntok của Indonesia giảm 7 USD/tấn xuống còn 9.308 USD/tấn, trong khi tiêu trắng của Việt Nam và Malaysia vẫn giữ ổn định lần lượt ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Thị trường lúa gạo ổn định

Trong nước, giá lúa gạo hôm nay duy trì xu hướng đi ngang, đồng thời hoạt động xuất khẩu tiếp tục giữ ổn định.

Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 dao động 5.800 - 6.100; lúa Đài Thơm 8 (tươi) ở mức 5.800 - 6.100 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) ở mức 5.400 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Đối với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.000 - 8.050 đồng/kg; gạo OM 18 ở mức 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo CL 555 dao động 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo OM 5451 đạt 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo OM 380 dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo Sóc thơm ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trên thị trường xuất khẩu, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 460-465 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 333-337 USD/tấn, còn gạo Jasmine ở mức 454-458 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm xuất khẩu dao động 378-382 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 357-361 USD/tấn; còn tại Ấn Độ, giá gạo ổn định với gạo 5% tấm quanh mức 336-340 USD/tấn và gạo 100% tấm dao động 284-288 USD/tấn.

Lan Lê

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-ngay-16-4-ca-phe-va-ho-tieu-dong-loat-tang/20260416090848437