Giá nông sản ngày 16/5: Cà phê lao dốc, hồ tiêu và lúa gạo biến động nhẹ

Trong bản tin nông sản ngày 16/5, thị trường ghi nhận giá cà phê trong nước lao dốc tại toàn bộ khu vực Tây Nguyên; hồ tiêu tiếp tục giữ trạng thái ổn định sau chuỗi phiên tăng mạnh trước đó; còn giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chỉ biến động nhẹ.

Giá cà phê đồng loạt giảm sâu

Sau đợt tăng mạnh ở phiên trước, thị trường cà phê nội địa trong sáng 16/5 bất ngờ đảo chiều giảm sâu trên toàn khu vực Tây Nguyên. Theo khảo sát mới nhất, giá cà phê hiện được giao dịch trong khoảng 87.100 - 87.800 đồng/kg, đồng loạt giảm khoảng 1.200 đồng/kg so với hôm qua.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Tại Lâm Đồng, giá cà phê đã lùi xuống mức 87.100 đồng/kg. Đây được đánh giá là phiên điều chỉnh khá mạnh của thị trường nội địa sau chuỗi tăng kéo dài thời gian gần đây.

Dẫn đầu cả nước về mức thu mua tiếp tục là khu vực Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), tuy nhiên giá hiện cũng đã giảm còn khoảng 87.800 đồng/kg. Trong khi đó, giá giao dịch tại Đắk Lắk và Gia Lai đang dao động quanh ngưỡng 87.700 đồng/kg.

Ở thị trường quốc tế, giá cà phê trong phiên giao dịch ngày 16/5 cũng đồng loạt giảm mạnh. Trên sàn London, giá Robusta giao tháng 7/2026 giảm sâu 73 USD/tấn, tương đương 2,05%, xuống còn 3.487 USD/tấn.

Đối với hợp đồng giao tháng 9/2026, mức giảm ghi nhận là 68 USD/tấn, đưa giá về khoảng 3.372 USD/tấn. Cùng thời điểm, trên sàn New York, giá Arabica giao tháng 7/2026 giảm 5,05 US cent/pound, tương đương 1,8%, xuống mức 275,7 US cent/pound.

Với hợp đồng giao tháng 9/2026, giá tiếp tục giảm khoảng 1,85%, còn 268,35 US cent/pound. Theo Reuters và Barchart, việc đồng USD tăng giá trở lại là nguyên nhân chủ yếu kéo giá cà phê đi xuống.

Giá hồ tiêu tiếp tục đi ngang

Sau nhiều phiên tăng mạnh trước đó, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 16/5 vẫn duy trì trạng thái ổn định. Theo khảo sát tại các vùng trồng trọng điểm, giá hồ tiêu hiện dao động từ 141.500 - 144.000 đồng/kg, đánh dấu ngày đi ngang thứ hai liên tiếp.

Mức thu mua cao nhất cả nước tiếp tục thuộc về Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) khi duy trì ở ngưỡng 144.000 đồng/kg. Xếp sau là khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) và Đồng Nai với giá giao dịch quanh 143.000 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai vẫn là địa phương có giá thấp nhất thị trường với mức khoảng 141.500 đồng/kg.

So với phiên trước, thị trường hồ tiêu quốc tế sáng nay nhìn chung chưa ghi nhận biến động đáng kể.

Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá hồ tiêu đen Indonesia hiện được niêm yết ở mức 7.050 USD/tấn. Trong khi đó, hồ tiêu đen Brazil loại ASTA 570 đang được giao dịch quanh mốc 6.250 USD/tấn, còn hồ tiêu đen Malaysia giữ mức cao 9.300 USD/tấn.

Đối với thị trường Việt Nam, giá hồ tiêu đen xuất khẩu tiếp tục ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l. Hiện giá hồ tiêu trắng Muntok của Indonesia đang duy trì ở mức 9.244 USD/tấn. Trong khi đó, hồ tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam và Malaysia lần lượt giữ ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Giá lúa gạo biến động nhẹ tại Đồng bằng sông Cửu Long

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ghi nhận biến động nhẹ, trong khi hoạt động mua bán diễn ra không nhiều.

Theo cập nhật của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu OM 5451 hiện ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 ở mức 8.400 - 8.550 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 đạt 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm giữ ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; còn gạo thành phẩm IR 504 dao động từ 10.750 - 10.900 đồng/kg.

Ở các chợ lẻ, giá gạo thường giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 12.000 - 13.000 đồng/kg. Hiện gạo Nàng Nhen được niêm yết cao nhất với giá 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài đạt 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan (Trung Quốc) đạt 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng giữ mức 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường ở mức 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái đạt 20.000 đồng/kg; còn gạo Nhật ở mức 22.000 đồng/kg.

Đối với phân khúc nếp, thị trường không ghi nhận biến động mới. Cụ thể, nếp IR 4625 tươi hiện ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg; còn nếp khô giữ trong khoảng 9.500 - 9.700 đồng/kg.

Tương tự mặt hàng gạo, giá lúa tươi cũng duy trì ổn định ở nhiều chủng loại. Theo đó, lúa OM 18 ở mức 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động 6.200 - 6.300 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) ở ngưỡng 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) đạt 5.400 - 5.500 đồng/kg; còn lúa OM 34 (tươi) ở mức 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện được duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine đang được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 331 - 335 USD/tấn; còn gạo thơm 5% tấm ở khoảng 510 - 520 USD/tấn.

Ở thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động 396 - 400 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 369 - 373 USD/tấn. Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được giao dịch quanh 345 - 349 USD/tấn, còn gạo 100% tấm được chào bán từ 280 - 284 USD/tấn.

Lan Lê

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-ngay-16-5-ca-phe-lao-doc-ho-tieu-va-lua-gao-bien-dong-nhe/20260516092457730