Gia tăng giá trị kiểm toán Chương trình mục tiêu quốc gia
Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 tại các cơ quan trung ương và địa phương có phạm vi rộng, tính chất phức tạp, liên quan nhiều chủ thể quản lý và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bởi vậy, nâng cao chất lượng kiểm toán 2 Chương trình này là yêu cầu tất yếu.

Kết quả kiểm toán cho thấy, việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí 2 Chương trình mục tiêu quốc gia còn một số bất cập, hạn chế. Ảnh: mst.gov.vn
Những bất cập được phát hiện qua kiểm toán
Qua kiểm toán việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 tại các cơ quan trung ương và địa phương, có thể khái quát một số bất cập, hạn chế chủ yếu:
Công tác tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách và hướng dẫn thực hiện Chương trình ở một số nội dung còn chậm so với yêu cầu thực tiễn. Một số văn bản hướng dẫn triển khai Chương trình chưa được ban hành đầy đủ, kịp thời hoặc còn có nội dung chưa thống nhất, ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức thực hiện, phân bổ và giải ngân nguồn vốn.
Công tác lập kế hoạch, phân bổ và giao dự toán kinh phí thực hiện Chương trình còn một số tồn tại như chậm phân bổ vốn, phân bổ vốn khi chưa bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện hoặc chưa sát với nhu cầu và khả năng triển khai thực tế. Việc huy động nguồn lực, bố trí vốn đối ứng và lồng ghép các nguồn vốn thực hiện Chương trình ở một số nơi còn gặp khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ và hiệu quả thực hiện mục tiêu Chương trình.
Công tác quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện Chương trình tại một số cơ quan chủ trì còn bộc lộ những hạn chế trong việc xây dựng kế hoạch thực hiện, giao mục tiêu, nhiệm vụ, theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn các đơn vị triển khai thực hiện. Công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan có thời điểm chưa đồng bộ, dẫn đến việc triển khai một số nội dung còn chậm hoặc lúng túng.
Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình còn những bất cập nhất định. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát và đánh giá Chương trình chưa được hoàn thiện đồng bộ; chất lượng báo cáo ở một số nội dung chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ công tác quản lý, điều hành.
Công tác tổng hợp, quản lý và quyết toán kinh phí Chương trình còn gặp nhiều khó khăn do phạm vi thực hiện rộng, liên quan đến nhiều cơ quan trung ương, địa phương và nhiều nguồn vốn khác nhau. Một số trường hợp còn phát sinh chênh lệch số liệu giữa các cơ quan quản lý, cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước và đơn vị thực hiện Chương trình, ảnh hưởng đến chất lượng tổng hợp, báo cáo và quyết toán kinh phí.
Kiểm toán một số nội dung trọng tâm
Thực tiễn kiểm toán và các hướng dẫn, đề cương kiểm toán chỉ ra rằng, cuộc kiểm toán Chương trình mục tiêu quốc gia cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm:
Công tác lập kế hoạch, phân bổ và quản lý nguồn vốn Chương trình: Đây là nội dung trọng yếu xuyên suốt quá trình kiểm toán đòi hỏi tập trung đánh giá việc xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch vốn hằng năm; việc giao dự toán, phân bổ vốn cho các bộ, ngành, cơ quan chủ trì dự án, tiểu dự án và các đơn vị tham gia thực hiện Chương trình; đối chiếu số liệu giữa cơ quan thường trực Chương trình, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước và các đơn vị thực hiện nhằm xác nhận tính đầy đủ, chính xác của số liệu về dự toán được giao, vốn đã phân bổ, giải ngân, thanh toán, chuyển nguồn và quyết toán.
Công tác quản lý, thanh toán và giải ngân kinh phí Chương trình: Tập trung kiểm tra, đối chiếu giữa số liệu của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng phục vụ và đơn vị sử dụng kinh phí Chương trình. Kiểm toán viên cần xác nhận số dư kinh phí chuyển nguồn, số vốn còn tồn, số đã giải ngân, số tạm ứng chưa thu hồi, số nộp trả ngân sách nhà nước cũng như các khoản kinh phí còn tồn đọng tại các đơn vị.
Đối với các nguồn vốn vay, vốn viện trợ nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác (nếu có), cần kiểm tra toàn bộ quy trình từ xây dựng danh mục tài trợ, ký kết hiệp định, tiếp nhận vốn, giải ngân, thanh toán đến hạch toán ghi thu, ghi chi ngân sách nhà nước; đồng thời kiểm tra việc quản lý chênh lệch tỷ giá, lãi tiền gửi, các khoản hoàn thuế và các khoản kết dư phải nộp ngân sách nhà nước.
Công tác quản lý, sử dụng kinh phí Chương trình: Đây là nội dung quan trọng nhằm đánh giá việc sử dụng nguồn lực nhà nước có đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng nội dung hỗ trợ và đúng quy định hay không. Đối với kinh phí sự nghiệp, cần kiểm tra việc lập dự toán, phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí theo từng nhiệm vụ, lĩnh vực chi. Đối với vốn đầu tư phát triển, cần đánh giá việc bố trí vốn, cấp phát, thanh toán, quản lý chi phí đầu tư và việc tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư công. Bên cạnh việc đánh giá tính tuân thủ, cần chú trọng xem xét kết quả đầu ra, mức độ hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và hiệu quả sử dụng kinh phí của Chương trình.
Công tác tổng hợp và quyết toán kinh phí Chương trình: Kiểm tra công tác tổng hợp quyết toán của cơ quan thường trực Chương trình; đối chiếu, xác nhận sự khớp đúng giữa số liệu quyết toán của Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, các bộ, cơ quan trung ương, các đơn vị thực hiện Chương trình và các địa phương. Đối với các trường hợp có chênh lệch số liệu, cần yêu cầu giải trình, xác định nguyên nhân và đánh giá ảnh hưởng đến tính trung thực, hợp lý của báo cáo quyết toán. Đồng thời, kiểm tra việc xử lý kinh phí chuyển nguồn, kinh phí còn dư, các khoản hoàn trả ngân sách nhà nước và việc chấp hành các quy định về quyết toán ngân sách nhà nước.
Công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát Chương trình: Đánh giá trách nhiệm của cơ quan thường trực Chương trình và các bộ, ngành chủ trì trong việc tổ chức thực hiện, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và giám sát các đơn vị thực hiện Chương trình. Nội dung này bao gồm việc đánh giá hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu, chế độ báo cáo, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện nhằm xác định mức độ hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý, điều hành Chương trình.
Kinh nghiệm xác định tiêu chí kiểm toán: Đối với kiểm toán tuân thủ, tiêu chí kiểm toán cần được xây dựng trên cơ sở các nghị quyết của Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của bộ, ngành liên quan; các quy định tại Hướng dẫn kiểm toán Chương trình mục tiêu quốc gia của KTNN, Chuẩn mực KTNN số 4000 và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan.
Việc xác định đúng các nội dung trọng yếu, xây dựng tiêu chí kiểm toán phù hợp và tăng cường đối chiếu, xác nhận số liệu giữa các cơ quan liên quan là những kinh nghiệm quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán và giá trị gia tăng của các cuộc kiểm toán Chương trình mục tiêu quốc gia trong thời gian tới./.
