Gia tăng quy mô và đa dạng phương thức xúc tiến xuất khẩu
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh, năm 2026 được xác định là thời điểm bản lề để Việt Nam tăng tốc hoạt động xúc tiến xuất khẩu, củng cố thị trường.
Xúc tiến xuất khẩu theo hướng chuyên nghiệp, số hóa, bền vững
Đánh giá về sự tác động mạnh mẽ của lĩnh vực xúc tiến thương mại trong phát triển xuất khẩu, ông Lê Hoàng Tài, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, giai đoạn 2021 - 2025, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đối mặt với nhiều thách thức, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục là điểm sáng của trong "bức tranh" kinh tế toàn cầu.
Kinh tế vĩ mô của Việt Nam tiếp tục được duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được đảm bảo, trong đó, ngành Công Thương tiếp tục đạt được những kết quả ấn tượng, tạo nên dấu ấn mạnh mẽ toàn diện trong lĩnh vực xúc tiến thương mại phát triển xuất khẩu.

Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài do Cục Xúc tiến thương mại tổ chức nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường tiềm năng. Ảnh: Đ.N
"Tỷ lệ xuất khẩu/GDP tăng từ 72,7% năm 2021 lên ước khoảng 85% vào năm 2025, với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt khoảng 10%/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới… Qua đó, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, nâng sức chống chịu và tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" - ông Tài cho biết.
Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo nền tảng quan trọng cả về quy mô, phương thức triển khai, năng lực tổ chức và định hướng chiến lược, giúp hoạt động xúc tiến thương mại bước sang giai đoạn mới với yêu cầu cao hơn về tính chuyên nghiệp, số hóa và phát triển bền vững.
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, hoạt động xúc tiến thương mại giai đoạn 2021 - 2025 vẫn tồn tại một số hạn chế đáng chú ý. Thứ nhất, phương thức xúc tiến còn phụ thuộc nhiều vào hội chợ và đoàn công tác nước ngoài, trong khi các hoạt động được đánh giá hiệu quả cao như đón đoàn mua hàng, xây dựng cơ sở dữ liệu và đào tạo nâng cao năng lực chưa được ưu tiên tương xứng. Thứ hai, năng lực đội ngũ làm công tác xúc tiến tại địa phương chưa đồng đều, đặc biệt về ngoại ngữ và kỹ năng phân tích thị trường chuyên sâu. Thứ ba, hạ tầng logistics và cơ sở tổ chức sự kiện quy mô quốc tế còn thiếu đồng bộ, hạn chế khả năng tổ chức các chương trình xúc tiến tầm khu vực.
Ngoài ra, việc thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành hàng và thị trường khiến công tác hoạch định chiến lược chưa đạt hiệu quả tối ưu.
Định hướng xúc tiến xuất khẩu sang thị trường lớn
Năm 2026 được xem là năm bản lề với nhiều thách thức lớn. Để góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, theo ông Lê Hoàng Tài, công tác xúc tiến thương mại cần liên tục đổi mới về phương thức và nâng cao hiệu quả với năm định hướng, nhiệm vụ lớn.
Cụ thể, công tác xúc tiến thương mại góp phần đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, nâng cao hiệu quả khai thác các Hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới; vừa giữ vững thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN, vừa mở rộng mạnh mẽ sang các thị trường quan trọng như Anh, Canada, Úc, Ấn Độ và Trung Đông.
Tập trung xây dựng và phát triển mạng lưới xúc tiến thương mại quốc gia đồng bộ, hiện đại và chuyên nghiệp, với cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng, chuẩn hóa mô hình trung tâm xúc tiến thương mại địa phương, thiết lập mạng lưới chuyên gia chất lượng theo ngành và thị trường để hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp trong xúc tiến xuất khẩu khi thâm nhập thị trường quốc tế.

Nhiều tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, xúc tiến xuất khẩu giữa Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Ảnh: Đ.N
Đổi mới toàn diện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia theo hướng đơn giản hóa thủ tục, linh hoạt trong hình thức triển khai và tăng cường số hóa, tập trung nguồn lực cho các sự kiện xúc tiến thương mại quy mô lớn ở trong nước và quốc tế nhằm nâng cao độ nhận diện hình ảnh quốc gia và giá trị thương hiệu quốc gia.
Song song đó, đẩy nhanh phát triển hệ sinh thái xúc tiến thương mại số, ứng dụng Big Data, AI, xây dựng nền tảng dữ liệu liên thông và thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới, giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác và nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại.
Tăng cường tập huấn, tư vấn chuyên sâu về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, gắn với chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức xúc tiến thương mại và doanh nghiệp, đồng thời triển khai chương trình doanh nghiệp dẫn dắt để tạo các đầu tàu ngành hàng, giúp lan tỏa kinh nghiệm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tập trung tổ chức các hội chợ quốc gia nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận đa dạng nguồn cung nguyên liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Đây là một hình thức “xúc tiến hai chiều”, vừa thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, vừa thu hút nhập khẩu công nghệ, tri thức và đầu tư chất lượng cao, qua đó giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu và cao hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về phía Cục Xuất nhập khẩu, nhằm tăng cường phối hợp giữa công tác quản lý xuất nhập khẩu và xúc tiến thương mại giúp giữ vững thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh mới, theo ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), thời gian qua, Cục Xuất nhập khẩu và Cục Xúc tiến thương mại đã chủ động phối hợp trong nhiều nội dung.
Cụ thể như: xây dựng kế hoạch, tổ chức chương trình xúc tiến thương mại có trọng tâm, trọng điểm, gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, chia sẻ thông tin thị trường và chính sách thương mại; lồng ghép nội dung phổ biến quy định pháp luật, cam kết hội nhập vào các chương trình xúc tiến thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc về điều kiện, thủ tục xuất khẩu, tận dụng ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do.
"Những kết quả đạt được đã góp phần nâng cao năng lực tiếp cận thị trường, giảm rủi ro trong hoạt động xuất khẩu và từng bước cải thiện chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển xuất khẩu bền vững trong giai đoạn tới, công tác phối hợp cần tiếp tục được nâng lên về chiều sâu, tính hệ thống và hiệu quả thực chất" - ông Hải nói.
Để góp phần thực hiện mục tiêu phát triển xuất khẩu bền vững, theo ông Trần Thanh Hải, Cục Xuất nhập khẩu đề xuất một số định hướng phối hợp trọng tâm với Cục Xúc tiến thương mại trong thời gian tới như sau:
Một là, tăng cường chia sẻ thông tin, cảnh báo sớm rủi ro và yêu cầu thị trường. Hai cục cần phối hợp chặt chẽ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về thay đổi chính sách, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định môi trường, phòng vệ thương mại của các thị trường xuất khẩu, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh chiến lược sản xuất, kinh doanh.
Hai là, gắn hoạt động xúc tiến thương mại với nâng cao năng lực tuân thủ và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Cục Xuất nhập khẩu sẽ phối hợp với Cục Xúc tiến thương mại lồng ghép nội dung hướng dẫn về xuất xứ hàng hóa, chứng nhận, điều kiện xuất khẩu, phát triển chuỗi cung ứng bền vững, tận dụng hiệu quả các FTA trong các chương trình xúc tiến thương mại.
Ba là, phối hợp triển khai các chương trình xúc tiến thương mại theo ngành hàng, thị trường trọng điểm và chuỗi giá trị.
Việc kết hợp xúc tiến thị trường với hoàn thiện điều kiện xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và tính bền vững của hàng hóa Việt Nam.
Bốn là, phát huy vai trò của hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và mạng lưới xúc tiến thương mại. Hai cục cần tăng cường phối hợp trong việc định hướng nội dung xúc tiến, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề phát sinh, kết nối hiệu quả với đối tác và chuỗi phân phối tại thị trường nước ngoài.
Năm 2025 là năm đạt kỷ lục mới về xuất nhập khẩu với tổng trị giá xuất nhập khẩu ước đạt 930,1 tỷ USD, vượt mục tiêu kế hoạch Chính phủ giao đề ra là khoảng 10 - 12% đã đưa Việt Nam vào Top 15 cường quốc thương mại toàn cầu. Trong đó, xuất khẩu 475,04 tỷ USD, tăng 16,1%; nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%, cán cân thương mại duy trì xuất siêu năm thứ 10 liên tiếp, giúp nâng cao dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá và các chỉ số kinh tế vĩ mô.











