Gia tăng tiết kiệm cho tăng trưởng bền vững ở Việt Nam

Ngay sau khi Cục Thống kê công bố cột mốc tăng trưởng kinh tế đạt 8,02% cho năm 2025, những phân tích dự báo kinh tế cho năm 2026, đặc biệt là câu chuyện 'tiết kiệm' thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng nhà kinh tế, nhà hoạch định chính sách.

Trong bài viết này, nhóm tác giả xin góp thêm góc nhìn về yếu tố quan trọng này dưới lăng kính kinh tế theo Hệ thống các tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc (SNA) và chính sách vĩ mô.

Vai trò chiến lược của tiết kiệm trong tăng trưởng kinh tế

Nói về tiết kiệm và nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói nổi tiếng “Tiết kiệm là quốc sách”. Trong bài “Thực hành tiết kiệm - ý thức và văn hóa” gần đây, TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng tiết kiệm không chỉ là một phẩm chất văn hóa cốt lõi của dân tộc Việt Nam mà còn là nguyên lý phát triển và thước đo của năng lực quản trị quốc gia. Vấn đề tiết kiệm cũng được Tổng Bí thư Tô Lâm rất coi trọng, theo Tổng Bí thư “Tiết kiệm là trụ cột để đi tới thịnh vượng”.

Theo SNA, tiết kiệm là nguồn để đầu tư trong dài hạn và được hiểu theo quan hệ sau:

Đầu tư (I) = tiết kiệm (S) + chuyển nhượng vốn thuần + đi vay/cho vay

Về phía nguồn: Tiết kiệm = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần + thu từ chuyển nhượng thuần (cơ bản là kiều hối) – Tiêu dùng cuối cùng (hộ gia đình và Nhà nước).

Hiện nay con số thu nhập từ sở hữu thuần âm rất lớn. Theo niên giám Thống kê năm 2022 là âm 459.216 tỉ đồng, năm 2023 là âm(1) 534.562 tỉ đồng, làm tỷ lệ GNI/GDP chỉ còn 95%(1).

GDP là chỉ tiêu phản ánh trong ngắn hạn; tiết kiệm là chỉ tiêu quan trọng cho phát triển trong dài hạn, là nguồn cơ bản để đầu tư, và đây là một yếu tố vô cùng quan trọng cho nền kinh tế thông qua mối quan hệ tiết kiệm - đầu tư - tăng trưởng kinh tế.

Gần đây một số chuyên gia và các trang web như https://www.ceicdata.com cho rằng tiết kiệm của Việt Nam đạt 37% GDP (không rõ năm nào). Trang web https://www.ceicdata.com giải thích rằng tiết kiệm được tính toán bằng GDP theo giá hiện hành – Tiêu dùng cuối cùng. Khi soi lại với số liệu thống kê Việt Nam công bố, thấy rằng nếu làm như vậy thì tỷ lệ này khoảng trên 37% (37% năm 2022, 37,2% năm 2023 và 37,6% năm 2024). Tuy nhiên, con số này theo SNA và OECD thì hoàn toàn không phải là tiết kiệm. Nó chỉ là tiết kiệm khi nền kinh tế hoàn toàn đóng, không có xuất nhập khẩu, không có vay và cho vay. Kể cả như thế thì lượng tiền này đã vào sản xuất tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động (grosscapital formation), sao một số chuyên gia kinh tế lại muốn huy động tiền trong dân?(2)

Vì thế, giá trị (Gross Savings Rate) trong nguồn này không phải là savings (S), cũng không phải là tích lũy gộp tài sản (gross capital information (I)). Người đọc cần thận trọng khi sử dụng con số này và các kết luận cũng cần thận trọng và có chừng mực.

Làm sao để gia tăng tiết kiệm và chất lượng tiết kiệm

Câu hỏi quan trọng là làm sao có thể khai thác nguồn lực từ “tiết kiệm” để trở thành động lực bền vững cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030.

Về nguyên tắc, tiết kiệm quốc gia theo SNA bao gồm: tiết kiệm chính phủ, tiết kiệm khu vực hộ gia đình, tiết kiệm của khu vực tài chính và tiết kiệm của khu vực phi tài chính (doanh nghiệp không thuộc khu vực tài chính). Nhiệm vụ gia tăng tiết kiệm chính phủ chính là thực hiện chi tiêu công hợp lý, hiệu quả trong từng giai đoạn thông qua kỷ luật tài khóa. Trong năm tới, với mục tiêu tăng trưởng trên 10%, điều này cũng sẽ đặt ra áp lực lớn cho việc điều hành chính sách tài khóa mở rộng.

Tiếp theo, tiết kiệm của khu vực khác thông thường xuất phát từ thu nhập khả dụng và kỳ vọng thu nhập trong tương lai. Theo lý thuyết thu nhập vòng đời của Modigliani và giả thiết thu nhập thường xuyên của Friedman, hành vi tiết kiệm của hộ gia đình có thể được cải thiện nếu người dân có thu nhập ổn định, kỳ vọng tích cực về tương lai, và được tiếp cận các công cụ tài chính hiệu quả để bảo toàn và gia tăng giá trị tài sản.

Điều đáng chú ý, tiết kiệm của khu vực hộ gia đình hiện nay ở Việt Nam chủ yếu đến từ chênh lệch giá tài sản, đặc biệt là bất động sản, mà chưa thật sự đến từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thực. Do đó, việc gia tăng “chất lượng tiết kiệm” - tức là tăng giá trị tiết kiệm từ hoạt động sản xuất gắn với đổi mới sáng tạo - là yêu cầu vô cùng quan trọng để đảm bảo tính bền vững của nền kinh tế.

Mặt khác, do mục tiêu tăng trưởng trong những năm tới là hai con số cho nên quy mô tín dụng của nền kinh tế có thể phải tăng gấp đôi trong năm năm tới. Việc tăng cung tiền để thúc đẩy tiêu dùng sẽ làm giảm tỷ lệ tiết kiệm quốc gia trong dài hạn nhưng có thể tạo ra hiệu ứng tăng trưởng GDP trong ngắn hạn. Do đó, cần đảm bảo cân bằng hợp lý giữa tiết kiệm và tiêu dùng, giữa tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn, để tránh rơi vào bẫy nợ hoặc kinh tế quá nóng.

Chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư hiệu quả

Câu hỏi thứ hai cũng quan trọng là làm sao để chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư hiệu quả. Hiện nay, Việt Nam thường sử dụng chỉ số ICOR (hệ số gia tăng vốn/sản lượng) để đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Theo phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV ngày 19-6-2025, ICOR của Việt Nam hiện nay cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu và khu vực, phản ánh mức độ hiệu quả sử dụng vốn còn thấp(3). Đây là thách thức không nhỏ đối với Nhà nước trong thời gian tới.

Muốn sử dụng vốn hiệu quả, cần có hệ sinh thái bộ máy tổ chức chất lượng cao, thể chế hoàn thiện, quản trị công minh bạch và hiệu quả, chuyển đổi số toàn diện, và sự thống nhất trong triển khai chính sách. Để cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, cần tập trung vào nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) thông qua đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, và cải cách thể chế toàn diện.

Hàm ý chính sách cho giai đoạn 2026-2045

Trong bối cảnh dư địa cho chính sách tiền tệ mở rộng giảm dần và chính sách tài khóa cũng cần được điều hành thận trọng để đảm bảo tính bền vững, việc đa dạng hóa động lực tăng trưởng - trong đó có khai thác dư địa nguồn lực tiết kiệm trong dân - là một lựa chọn cần cân nhắc.

Từ những phân tích ở trên, phải chăng Nhà nước nên tiếp tục tập trung cải cách thể chế theo tinh thần của Nghị quyết 66-NQ/TW theo hướng dung hợp, trọng cung, cân bằng, thích nghi, toàn diện nhằm giảm chi phí giao dịch, chi phí tuân thủ, gia tăng lợi nhuận doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Cần cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà, thực hiện chuyển đổi số toàn diện và hợp lý để giảm tham nhũng. Xa hơn, Việt Nam cần tập trung thực hiện thành công “bộ tứ chuyển đổi”: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi sạch, chuyển đổi sáng tạo thúc đẩy năng suất và gia tăng giá trị, kiến tạo niềm tin cho doanh nghiệp và người dân.

Kết luận

Tóm lại, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo đã được đặt ra để đảm bảo sự phát triển và thịnh vượng của đất nước hướng tới năm 2045. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn và vẫn đảm bảo dài hạn thông qua tiết kiệm, ba nguyên tắc then chốt cần được tuân thủ: (1) Thực hành văn hóa tiết kiệm để gia tăng tiết kiệm và chất lượng tiết kiệm từ hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì chỉ dựa vào chênh lệch giá tài sản; (2) Sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư thông qua cải thiện chỉ số ICOR, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, và hoàn thiện thể chế; (3) Cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo phát triển bền vững. Rủi ro chi tiêu công quá mức luôn thường trực, do đó cần tăng cường chất lượng lập kế hoạch chi tiêu và quản trị công trong thời gian tới; (4) Đồng thời, cần tập trung dồn lực thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, chuyển đổi hướng đến người dân, chuyển đổi sáng tạo để gia tăng tiết kiệm, sử dụng vốn hiệu quả và cân bằng chi tiêu - đầu tư cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

(*) Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
(**) Trường đại học FPT
(1) Nso.gov.vn - Điều này cho thấy luồng tiền chi trả sở hữu lớn hơn thu nhập từ sở hữu
(2) https://vietnambiz.vn/chuyen-gia-ty-le-tiet-kiem-cua-nguoi-dan-cao-la-du-dia-quan-trong-de-huy-dong-von-cho-tang-truong-2026112173811350.htm
(3) https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/thong-doc-ngan-hang-nha-nuoc-canh-bao-rui-ro-khi-du-no-tin-dung-gdp-da-len-toi-134--i772076/

Khúc Văn Quý (*) - Bùi Trinh (**)

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/gia-tang-tiet-kiem-cho-tang-truong-ben-vung-o-viet-nam/