Giá tiêu hôm nay 15/7/2026: Tăng tới 3.000 đồng, cao nhất trở lại 140.000 đồng/kg
Giá tiêu hôm nay 15/7/2026 tăng 2.000–3.000 đồng/kg, lên 136.500–140.000 đồng/kg; Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông cũ cao nhất.
Giá tiêu hôm nay 15/7/2026 tại khu vực trong nước
Tại khu vực Đắk Lắk, giá tiêu tăng 3.000 đồng/kg so với hôm qua, lên 140.000 đồng/kg. Đây là một trong hai mức thu mua cao nhất được ghi nhận trong phiên sáng nay.
Khu vực Đắk Nông cũ, hiện thuộc tỉnh Lâm Đồng, cũng tăng mạnh 3.000 đồng/kg và trở lại ngưỡng 140.000 đồng/kg. Đà phục hồi giúp vùng nguyên liệu này bù lại phần giảm trong phiên liền trước.
Tại địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc TP.HCM, thương lái nâng giá mua thêm 2.500 đồng/kg, lên 137.500 đồng/kg. Mức điều chỉnh thấp hơn hai vùng dẫn đầu nhưng vẫn cho thấy xu hướng phục hồi đã lan sang khu vực Đông Nam Bộ.
Khu vực Bình Phước thuộc tỉnh Đồng Nai tăng 2.000 đồng/kg, đạt 137.000 đồng/kg. Giá tại địa bàn Đồng Nai cũ cũng tăng tương tự và giữ cùng mức 137.000 đồng/kg.
Khu vực Gia Lai được thu mua với giá 136.500 đồng/kg sau khi tăng 2.000 đồng/kg. Đây vẫn là mức thấp nhất trong số các vùng được khảo sát, kém hai khu vực dẫn đầu 3.500 đồng/kg.

Giá nội địa lấy lại phần giảm của phiên trước
Mức tăng 2.000–3.000 đồng/kg giúp thị trường trong nước nhanh chóng bù lại phần giảm đã ghi nhận trước đó. Ngưỡng 140.000 đồng/kg một lần nữa xuất hiện tại Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông, trở thành mốc cần theo dõi trong các phiên kế tiếp.
Đối với người trồng và đại lý đang giữ hàng, phiên phục hồi mở rộng thêm lựa chọn về thời điểm bán. Tuy nhiên, việc giá vừa giảm rồi nhanh chóng đảo chiều cho thấy xu hướng ngắn hạn chưa thật sự ổn định.
Tại nhóm giá thấp hơn, khu vực Gia Lai vẫn chưa lấy lại mốc 137.000 đồng/kg. Bình Phước và địa bàn Đồng Nai cũ vừa chạm ngưỡng này, còn Bà Rịa – Vũng Tàu cao hơn 500 đồng/kg.
Tiêu đen Việt Nam giữ mức 5.850–5.950 USD/tấn
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam chưa xuất hiện điều chỉnh mới trong ngày 15/7. Tiêu đen loại 500 g/l tiếp tục được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn.
Loại 550 g/l giữ mức 5.950 USD/tấn, cao hơn loại 500 g/l khoảng 100 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam cũng đi ngang tại 8.200 USD/tấn.
Diễn biến ổn định của giá xuất khẩu trái chiều với mức tăng mạnh trên thị trường nội địa. Phiên phục hồi trong nước vì thế chưa đủ để xác định giá tiêu quốc tế đã bước vào một nhịp tăng mới.
Malaysia giữ giá tiêu đen cao nhất 9.350 USD/tấn

Malaysia tiếp tục là thị trường có giá tiêu đen cao nhất với 9.350 USD/tấn. Mức giá này cao hơn tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l khoảng 3.500 USD/tấn và vượt loại 550 g/l khoảng 3.400 USD/tấn.
Tiêu đen Brazil đạt 5.900 USD/tấn, nằm giữa hai loại hàng xuất khẩu của Việt Nam. Tiêu Lampung Indonesia giữ mức 7.079 USD/tấn, cao hơn hàng Việt Nam từ 1.129 đến 1.229 USD/tấn.
Tiêu trắng Malaysia đứng ở 12.250 USD/tấn
Giá tiêu trắng tại các thị trường lớn cũng chưa thay đổi. Tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ở mức 9.198 USD/tấn.
Malaysia tiếp tục dẫn đầu với giá tiêu trắng ASTA đạt 12.250 USD/tấn. Sản phẩm cùng loại của Việt Nam được báo giá ở mức 8.200 USD/tấn, thấp hơn Malaysia 4.050 USD/tấn và thấp hơn Indonesia 998 USD/tấn.

Mặt bằng giá quốc tế ổn định cho thấy thị trường xuất khẩu chưa xuất hiện lực kéo mới rõ rệt. Giá trong nước sẽ cần thêm sự hỗ trợ từ các đơn hàng và nhu cầu giao hàng thực tế để duy trì đà phục hồi.
Việt Nam chiếm gần 80% lượng hạt tiêu Mỹ nhập khẩu
Mỹ nhập khẩu 40,02 nghìn tấn hạt tiêu trong 5 tháng đầu năm 2026, với tổng trị giá 298,55 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu tăng 10,4%, còn kim ngạch tăng 11,5%.
Riêng tháng 5, thị trường này mua 9,41 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 70,3 triệu USD. Khối lượng tăng 21,5% so với tháng trước và tăng 16,9% so với tháng 5/2025.
Giá bình quân nhập khẩu trong tháng 5 đạt 7.471 USD/tấn, giảm 3% so với tháng 4 và giảm 0,3% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng, giá bình quân đạt 7.459 USD/tấn, tăng 1,1% so với một năm trước.
Mỹ tăng mua tiêu Việt Nam 36,8% trong 5 tháng
Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất cho Mỹ, với khối lượng đạt 31,95 nghìn tấn và trị giá 239,73 triệu USD trong 5 tháng đầu năm.
So với cùng kỳ năm trước, lượng hàng Mỹ nhập từ Việt Nam tăng 36,8%, còn kim ngạch tăng 35,8%. Tốc độ này cao hơn đáng kể so với mức tăng chung của nhập khẩu hạt tiêu tại Mỹ.
Thị phần của Việt Nam tính theo khối lượng tăng từ 64,40% lên 79,82%. Xét theo giá trị, tỷ trọng cũng được nâng từ 65,95% lên 80,30%.
Như vậy, gần 4 trong mỗi 5 kg hạt tiêu được Mỹ nhập khẩu có nguồn gốc từ Việt Nam. Đây là lợi thế lớn, nhưng cũng đồng nghĩa dư địa mở rộng thêm thị phần sẽ không còn nhiều như giai đoạn trước.
Indonesia giảm mạnh, Brazil tiếp tục cạnh tranh
Lượng hạt tiêu Mỹ nhập từ Indonesia giảm tới 65,2%, còn nguồn hàng từ Ấn Độ giảm 23,4%. Nhóm các thị trường khác cũng ghi nhận mức giảm 27,7%.
Brazil là đối thủ đáng chú ý khi duy trì mức tăng 14,3% về lượng. Dù vậy, quốc gia này mới chiếm 4,91% tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu của Mỹ, thấp hơn nhiều so với tỷ trọng của Việt Nam.
Giá bình quân Mỹ nhập khẩu hạt tiêu từ Việt Nam đạt 7.504 USD/tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2025. Giá hàng từ Indonesia tăng 20,3%, còn sản phẩm từ Brazil tăng 0,5%.
Nhu cầu từ Mỹ tạo nền hỗ trợ cho thị trường
Triển vọng xuất khẩu tích cực sang Mỹ có thể tạo lực đỡ cho thị trường hồ tiêu Việt Nam trong trung hạn. Khối lượng xuất khẩu lớn giúp giảm bớt áp lực nguồn cung trong nước nếu các đơn hàng tiếp tục được duy trì.
Tuy nhiên, chưa có đủ căn cứ để quy toàn bộ mức tăng 2.000–3.000 đồng/kg trong ngày cho riêng nhu cầu từ Mỹ. Giá thu mua còn phụ thuộc vào lượng hàng người dân bán ra, nhu cầu của doanh nghiệp và tiến độ thực hiện các hợp đồng xuất khẩu.
Việc giá bình quân hàng Việt Nam bán vào Mỹ giảm nhẹ cũng đặt ra yêu cầu nâng chất lượng, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc và mở rộng nhóm sản phẩm chế biến sâu. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để duy trì kim ngạch khi thị phần đã ở mức rất cao.














