Giá trị phải được đo bằng chất lượng và đóng góp thực

Giáo dục đại học cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô, chạy đua thứ hạng sang tạo ra giá trị thực chất cho người học, xã hội và đất nước.

Sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TPHCM) học tập tại thư viện của nhà trường. Ảnh: NTCC.

Sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TPHCM) học tập tại thư viện của nhà trường. Ảnh: NTCC.

Thước đo của một trường đại học không chỉ nằm ở quy mô, số lượng công bố hay vị trí xếp hạng, mà ở chất lượng đào tạo, năng lực người học và những đóng góp thực tế cho xã hội.

Từ chạy đua thứ hạng đến giá trị thực

Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026 diễn ra tại TPHCM ngày 1/10 vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đánh giá cao những nỗ lực của toàn ngành Giáo dục và những chuyển biến tích cực của giáo dục đại học trong thời gian qua.

Theo Phó Thủ tướng, quy mô và cơ cấu đào tạo của giáo dục đại học đã có những chuyển biến tích cực.

Các ngành khoa học cơ bản, STEM, công nghệ cao và công nghệ chiến lược được quan tâm hơn; nhiều chương trình đào tạo nhân lực bán dẫn, AI, điện hạt nhân, đường sắt, chương trình tài năng và trung tâm đào tạo xuất sắc... đã được triển khai.

Doanh nghiệp phỏng vấn sinh viên tại ngày hội Việc làm Bách khoa năm 2026, diễn ra ngày 3/10 vừa qua. Ảnh: NTCC.

Doanh nghiệp phỏng vấn sinh viên tại ngày hội Việc làm Bách khoa năm 2026, diễn ra ngày 3/10 vừa qua. Ảnh: NTCC.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng chỉ ra một số điểm nghẽn cần được nghiêm túc nhìn nhận để thay đổi.

Chất lượng và năng lực giữa các cơ sở đào tạo còn chênh lệch. Một số cơ sở mở ngành, tăng quy mô nhanh hơn khả năng phát triển đội ngũ và các điều kiện bảo đảm chất lượng.

Vấn đề tự chủ đại học và bảo đảm chất lượng cũng chưa thực sự đi vào chiều sâu. Năng lực quản trị, trách nhiệm giải trình giữa các cơ sở chưa đồng đều; kiểm định ở một số nơi chưa thực sự trở thành động lực cải tiến chất lượng.

Theo Phó Thủ tướng, điều Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm không chỉ là khắc phục những hạn chế trước mắt, mà còn là vị thế và năng lực thực sự của giáo dục đại học Việt Nam trong 10-20 năm tới.

"Nhiều nước có quy mô dân số nhỏ hơn Việt Nam rất nhiều nhưng đã xây dựng được những trường đại học thuộc nhóm hàng đầu thế giới. Vấn đề không chỉ là thứ hạng, mà là vì sao chúng ta chưa hình thành được những đại học có năng lực đào tạo, nghiên cứu, thu hút nhân tài và tạo ra tri thức hàng đầu khu vực và thế giới? Đây là câu hỏi mà ngành Giáo dục và đào tạo, mỗi cơ sở giáo dục đại học phải nghiêm túc suy nghĩ và trả lời bằng kết quả thực tế", Phó Thủ tướng nêu vấn đề.

Yêu cầu trên càng cấp thiết trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và thị trường lao động đang thay đổi rất nhanh. Nếu các trường không chủ động đổi mới, rất dễ rơi vào tình trạng đào tạo hôm nay cho yêu cầu của ngày hôm qua.

Vì vậy, theo Phó Thủ tướng, cần chủ động đánh giá thẳng thắn từ chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, phương pháp dạy và học đến cách thi, kiểm tra, đánh giá.

Trong bối cảnh đó, cũng cần thay đổi cách nhìn về thành công của giáo dục đại học. Không thể chỉ đo bằng số trường, số ngành, số người học, số công bố hay thứ hạng.

Thước đo cuối cùng phải là chất lượng và đóng góp thực: người học có năng lực và khả năng thích ứng; đội ngũ có sản phẩm và đóng góp; nghiên cứu tạo ra tri thức, công nghệ và giải quyết được những vấn đề của thực tiễn.

Tỷ lệ xuất sắc cao, đã thực sự “học thực chất”?

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng, đồng thời lắng nghe các ý kiến thảo luận tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh thông điệp về giá trị thực sự của một trường đại học.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng, từ trước đến nay, khi xây dựng chiến lược, các trường đều mong muốn trở thành trung tâm đào tạo chất lượng cao, trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hướng tới vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực nào đó, ở trong nước hoặc trên thế giới.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là mỗi trường mang lại giá trị gì cho người học, xã hội và đất nước. Theo Bộ trưởng, giá trị của một cơ sở giáo dục đại học không thể chỉ đo bằng thứ hạng, số lượng công bố hay các chỉ số khác. Quan trọng hơn là sứ mạng của mỗi trường đại học, sự đóng góp và những giá trị mà nhà trường tạo ra cho xã hội. Đây mới là thước đo quan trọng nhất.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: UIT.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia TPHCM). Ảnh: UIT.

Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng, sau một thời gian chuyển đổi, mở rộng quy mô và tăng cường năng lực, giáo dục đại học đã đến lúc cần quan tâm nhiều hơn đến những chuyển biến về chất.

Một vấn đề khác liên quan đến chất lượng của giáo dục đại học được Bộ trưởng nhắc đến là sinh viên đã thực sự nỗ lực học tập hay chưa, đã “học thực chất” hay chưa.

Bộ trưởng nêu thực tế, tại nhiều trường, kể cả những đại học lớn, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc hiện rất cao. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ nỗ lực thực sự của sinh viên trong quá trình học tập.

Nếu chuẩn đầu ra của một trường top đầu không cao hơn các trường khác, trong khi tỷ lệ sinh viên đạt loại xuất sắc cao, thì có thể người học không cần phải nỗ lực quá nhiều.

Theo Bộ trưởng, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, nếu người học không nỗ lực, không học sâu thì khó có thể làm chủ và dẫn dắt AI. Chỉ khi sinh viên thực sự nỗ lực, ở mức 100%, thậm chí 110%, mới có thể tạo ra kết quả học tập thực chất.

Do đó, theo Bộ trưởng, trong thời gian tới, các trường đại học phải thống kê, đo lường được thời gian sinh viên dành cho việc tự học và nghiên cứu mỗi tuần.

Cùng với đó, các trường cần xác định rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo: chương trình đào tạo có vấn đề hay chưa đủ thách thức; bài thi, kiểm tra, đánh giá có đủ yêu cầu hay không; môn học có thực sự quan trọng, thiết yếu; phương pháp giảng dạy có đủ hấp dẫn; điều kiện học tập có đáp ứng yêu cầu; hay sinh viên đầu vào chưa phù hợp với chương trình.

“Chúng ta phải trả lời được những câu hỏi đó thì mới cải tiến được chất lượng đào tạo”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tự chủ đại học trước yêu cầu làm chủ AI

Theo Bộ trưởng, hệ thống giáo dục đại học đã trải qua hơn 10 năm triển khai mạnh mẽ cơ chế tự chủ đại học, bắt đầu từ việc thí điểm tại một số cơ sở, sau đó từng bước mở rộng về quy mô và số lượng. Đến khi Luật Giáo dục đại học năm 2018 được triển khai, cơ chế tự chủ được thực hiện mạnh mẽ hơn.

Trong giai đoạn này, hệ thống giáo dục đại học đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ cả về tư duy, nhận thức, năng lực cũng như các cơ chế, chính sách đi kèm.

Bộ trưởng cho rằng đây là thời điểm phù hợp để nhìn nhận, đánh giá lại chặng đường vừa qua, từ việc mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao năng lực quản trị, tiếp cận tốt hơn với thị trường, đẩy mạnh quốc tế hóa đến nâng cao năng lực nghiên cứu.

Trong bối cảnh mới, theo Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn, hệ thống giáo dục đại học cần xác định sẽ thay đổi như thế nào, không chỉ để thích ứng mà còn phải làm chủ và dẫn dắt sự phát triển cùng với trí tuệ nhân tạo.

Từ đó, đặt ra yêu cầu về cách thức đào tạo để đáp ứng và thích ứng với nhu cầu của thị trường; tích hợp trí tuệ nhân tạo vào chương trình đào tạo và quá trình dạy học; đồng thời tăng cường kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp.

Quy mô tuyển sinh theo 9 nhóm ngành năm 2025 và 2026.

Quy mô tuyển sinh theo 9 nhóm ngành năm 2025 và 2026.

Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, các cơ sở giáo dục đại học hiện có 2,78 triệu người học, gồm 2,53 triệu sinh viên đại học, 140.000 học viên thạc sĩ và 16.200 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Trong tổng số 226 cơ sở giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT quản lý nhiều cơ sở trực thuộc nhất với 41 đơn vị. Tiếp theo là UBND các tỉnh, thành phố, hiện quản lý 26 trường đại học.

Trong số các bộ, ngành khác, Bộ Quốc phòng quản lý 19 trường; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 13 trường; Bộ Y tế 11 trường; Bộ Công Thương 10 trường; Bộ Xây dựng 8 trường.

Một số bộ hiện quản lý 1 cơ sở giáo dục đại học, gồm Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và Công nghệ.

Tuyển sinh năm 2026 tiếp tục ghi nhận xu hướng dịch chuyển đáng chú ý sang các ngành STEM. Đến ngày 20/8/2026, có hơn 633.000 thí sinh xác nhận nhập học, trong đó 212.601 thí sinh thuộc nhóm STEM, chiếm khoảng 33,6%.

Các ngành thuộc phạm vi Nghị định 179/2026/NĐ-CP có 121.072 thí sinh xác nhận nhập học, gồm 11.363 thí sinh các ngành khoa học cơ bản và 109.709 thí sinh thuộc các ngành kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược.

Về chính sách học bổng, có 21.309 người học được nhận học bổng đối với khóa tuyển sinh năm 2025 và 22.909 người học đối với khóa tuyển sinh năm 2026.

Mạnh Tùng

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/gia-tri-phai-duoc-do-bang-chat-luong-va-dong-gop-thuc-post795156.html