Giác mạc chóp - bệnh lý giác mạc cần được phát hiện và điều trị sớm

Giác mạc là lớp mô trong suốt nằm phía trước nhãn cầu, có vai trò giống như một "thấu kính" giúp hội tụ ánh sáng vào võng mạc. Hình dạng và độ trong suốt của giác mạc vì vậy có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng thị giác.

Ở người bình thường, giác mạc có cấu trúc cong tương đối đều. Trong bệnh giác mạc chóp, cấu trúc cơ sinh học của giác mạc bị suy yếu, khiến giác mạc mỏng dần và nhô ra phía trước, tạo hình dạng giống hình nón hoặc hình chóp.

Giác mạc chóp biểu hiện như thế nào?

Ở giai đoạn sớm, bệnh có thể gần như không có triệu chứng rõ rệt. Khi giác mạc bắt đầu biến dạng, bệnh nhân có thể xuất hiện:

- Nhìn mờ hoặc chất lượng thị giác giảm.

- Cận, loạn thị tiến triển nhanh.

- Chói mắt, quầng sáng quanh nguồn sáng.

- Thị lực chỉnh kính không đạt mức mong muốn khi bệnh tiến triển.

Ở giai đoạn nặng, giác mạc có thể rất mỏng và giãn phình nhiều. Một số trường hợp có thể xuất hiện sẹo giác mạc hoặc khi có sự đứt màng Descemet khiến thủy dịch đi vào nhu mô giác mạc, gây phù giác mạc đột ngột và giảm thị lực nhiều.

Giác mạc chóp được điều trị như thế nào?

Điều trị giác mạc chóp có hai mục tiêu chính: cải thiện chức năng thị giác và ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Đây là hai mục tiêu khác nhau và có thể cần những phương pháp điều trị khác nhau.

Kính gọng và kính áp tròng

Ở giai đoạn nhẹ, kính gọng có thể giúp cải thiện thị lực.

Khi giác mạc biến dạng nhiều hơn và xuất hiện loạn thị không đều, kính áp tròng chuyên biệt như kính củng mạc có thể giúp cải thiện chất lượng thị giác tốt hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kính gọng và kính áp tròng chủ yếu giúp cải thiện thị lực, chứ không làm tăng độ bền giác mạc và không phải là phương pháp ngăn chặn tiến triển bệnh.

Corneal Cross-Linking

Đây là một bước tiến quan trọng trong điều trị giác mạc chóp.

Corneal cross-linking - CXL sử dụng riboflavin kết hợp tia UVA theo một quy trình được kiểm soát nhằm tạo thêm các liên kết giữa các phân tử collagen trong giác mạc, từ đó làm tăng độ bền cơ sinh học của mô giác mạc. Mục tiêu chính của CXL là làm chậm hoặc ngăn sự tiến triển của giác mạc chóp.

Ghép giác mạc

Ở giai đoạn nặng, khi giác mạc biến dạng nhiều, có sẹo hoặc bệnh nhân không còn đạt được thị lực chức năng với kính áp tròng, ghép giác mạc có thể được cân nhắc.

Tài liệu tham khảo

1. Gomes JAP, Hafezi F, Ambrósio R Jr, et al. (2026), Global Consensus on Keratoconus and Ectatic Diseases - Edition 2. Cornea;45(7):888-908.

2. Hashemi H, Heydarian S, Hooshmand E, et al. (2020), The Prevalence and Risk Factors for Keratoconus: A Systematic Review and Meta-Analysis. Cornea;39(2):263-270.

3. Vought R, Greenstein SA, Gelles J, Hersh PS. (2025), The Pathophysiology of Keratoconus. Cornea;44(2):137-143.

4. Deshmukh R, Ong ZZ, Rampat R, et al. (2023), Management of Keratoconus: An Updated Review. Frontiers in Medicine;10:1212314.

5. Soiberman U, Foster JW, Jun AS, Chakravarti S. (2017), Pathophysiology of Keratoconus: What Do We Know Today. Open Ophthalmology Journal;11:252-261.

Bác sĩ nội trú Trần Thị Khánh Linh - Phó giám đốc Chuyên môn Bệnh viện Mắt VISI Đà Lạt

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/giac-mac-chop-benh-ly-giac-mac-can-duoc-phat-hien-va-dieu-tri-som-20261008100253818.htm