Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ
Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ 'va chạm' với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.
Đảo ngọc chiến lược
Greenland là hòn đảo lớn nhất Trái đất với diện tích khoảng 2 triệu km2, trong đó hơn 2/3 nằm gọn bên trong vòng Bắc Cực. Dù mang tên “vùng đất xanh”, hòn đảo phần lớn được bao phủ bởi lớp băng tuyết dày và liên tục dịch chuyển chậm, đổ ra biển thông qua các sông băng. Chỉ khoảng 20% diện tích hòn đảo không có băng, nhưng hầu hết là những dãy núi hiểm trở, vách đá khoét sâu vào mặt biển và vài thị trấn nhỏ với những ngôi nhà sặc sỡ. “Greenland là một hòn đảo có lịch sử rất lâu đời”, Kathryn Goodenough, nhà địa chất trưởng của Cơ quan Khảo sát Địa chất Anh, mô tả.

Những ngôi nhà sặc sỡ dưới ánh nắng hè Greenland. Ảnh: GettyImages.
Hòn đảo nằm gần Bắc Cực này rộng gấp 3 nước Pháp, nhưng chỉ được thủy thủ Viking Iceland phát hiện vào năm 875. Từ năm 1262 đến 1536, đảo là một phần của Na Uy, sau đó thuộc Liên minh Đan Mạch - Na Uy. Đan Mạch hiện diện tại Greenland từ năm 1721, chủ yếu ở bờ Tây đảo. Sau khi liên minh này tan rã vào năm 1814, Greenland được nhượng lại cho Đan Mạch. Cuối thế kỷ 19, Copenhagen đẩy mạnh các cuộc thám hiểm về phía Bắc và Đông đảo, những khu vực trước đó gần như không thể tiếp cận vì đường đi quá khắc nghiệt.
Năm 1894, Ammassalik, nay là thị trấn Tasiilaq, trở thành điểm giao thương ở bờ Đông Greenland. Đến năm 1909, một trạm buôn tư nhân được lập tại Thule, nay là thị trấn Qaanaaq, ở cực Bắc hòn đảo. Sau hai cuộc thế chiến, Greenland từ năm 1953 trở thành một phần lãnh thổ chính thức của Đan Mạch, nhưng có quyền tự trị cao. Hòn đảo là nơi sinh sống của 56.800 người, 90% trong số đó là người Inuit bản địa, số còn lại là người Đan Mạch. Mật độ dân số ở Greenland thấp nhất thế giới, chỉ 0,03 người/km2, hầu hết sống tại các dải đất hẹp ven biển.
Dân số thấp, điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên Greenland hiếm khi được truyền thông đề cập. Trên tấm bản đồ thế giới theo phép chiếu Mercator thường thấy, hòn đảo nằm biệt lập, trắng xóa gần Bắc Cực. Tuy nhiên, nếu nhìn trên mô hình Trái đất hình cầu, Greenland quả thực có vị trí đặc biệt chiến lược, nằm giữa lục địa Á-Âu (nơi có nước Nga), Bắc Mỹ và Bắc Cực, yếu tố đặc biệt quan trọng cho việc triển khai các hệ thống cảnh báo sớm về các vụ phóng tên lửa liên lục địa.
Vùng lãnh thổ này cũng áp sát các tuyến hàng hải mới nổi ở Bắc Cực, nơi băng đang tan nhanh. Viễn cảnh băng tan đang mở ra những cơ hội vận chuyển mới, khiến Greenland có thể trở thành “nhân vật chính” trong tuyến hàng hải kết nối Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, rút ngắn đáng kể chặng đường từ châu Âu đến châu Á. Hòn đảo còn án ngữ khe GIUK, nơi ngăn cách biển Na Uy và biển Bắc với Đại Tây Dương. GIUK được đặt tên theo chữ viết tắt của 3 vùng đất tại đây gồm Greenland, Iceland, và Anh. Khu vực này nằm rất gần bán đảo Kola, nơi có sở chỉ huy Hạm đội Biển Bắc của Nga. Hơn nữa, vị trí địa lý cho phép chủ sở hữu đảo tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa Bắc Cực.

Những khối sắt thép phế liệu bị bỏ lại tại các căn cứ ở Greenland sau Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh. Ảnh: GettyImages.
Về địa chất, Greenland là một kho báu quý giá bậc nhất. Sự tập trung tài nguyên thiên nhiên phong phú của Greenland gắn liền với lịch sử địa chất đầy biến động suốt hơn 4 tỷ năm qua. Phần lớn tài nguyên thiên nhiên của Greenland bắt nguồn từ các thời kỳ vỏ Trái Đất tách giãn, gần đây nhất là sự hình thành Đại Tây Dương đầu kỷ Jura, cách đây hơn 200 triệu năm. Các bồn trầm tích trên bờ của Greenland, ví dụ bồn Jameson Land, có tiềm năng lớn về dầu khí, tương tự thềm lục địa giàu hydrocarbon của Na Uy. Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS) ước tính khu vực Đông Bắc Greenland chứa lượng hydrocarbon tương đương 31 tỷ thùng dầu, bằng toàn bộ trữ lượng dầu thô được xác minh của Mỹ.
Nơi đây còn có những loại đá cổ xưa bậc nhất hành tinh, những khối sắt bí ẩn to hơn xe tải, những “ống” kimberlite chứa kim cương được phát hiện từ thập niên 1970 nhưng chưa khai thác. Greenland còn sở hữu nhiều mỏ nguyên liệu thô quan trọng như lithium và đất hiếm. Trữ lượng dysprosium và neodymium khổng lồ dưới lớp băng tuyết Greenland đủ đáp ứng hơn 1/4 nhu cầu toàn cầu trong nhiều thập kỷ nữa, tổng cộng gần 40 triệu tấn. Chúng rất khó khai thác nhưng đang được coi là những nguyên tố đất hiếm giá trị cao, đóng vai trò thiết yếu trong ngành năng lượng gió, động cơ điện, nam châm trong môi trường nhiệt độ cao như lò phản ứng hạt nhân.
Ba trong số những mỏ đất hiếm của Greenland nhiều khả năng thuộc nhóm có trữ lượng lớn nhất thế giới. Kim loại như chì, đồng, sắt, kẽm cũng hiện diện trong các bồn trầm tích trên bờ (gần như không bị băng che phủ), nhưng mới chỉ được khai thác cục bộ với quy mô nhỏ trong gần 3 thế kỷ qua. Hiện nay, mọi hoạt động khai thác tài nguyên đều được chính quyền Greenland quản lý bằng khung pháp lý đã hơn 100 năm tuổi.

Toan tính Greenland của Tổng thống Trump khiến châu Âu đứng ngồi không yên. Ảnh: TheWeek.
50 năm Mỹ tìm đường tới Greenland
Mỹ nhận thấy giá trị của Greenland từ rất sớm. Nội chiến Mỹ (1861-1865) kết thúc, một nước Mỹ thống nhất và hùng mạnh bắt đầu tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Sau khi mua thành công Alaska từ Đế chế Nga với giá 7,2 triệu USD vào năm 1867, chính quyền Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ Andrew Johnson đã bắt đầu “để mắt” tới đảo Greenland.
Theo tài liệu lịch sử của Bộ Ngoại giao Mỹ, Ngoại trưởng William H. Seward và Bộ trưởng Tài chính Robert J. Walker, hai người tham gia dàn xếp thương vụ Alaska, tin rằng Greenland có vai trò rất lớn về mặt chính trị, thương mại và sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú. Ông Seward đã gửi đề xuất tới Nhà Trắng, lập luận việc Mỹ giành Greenland sẽ giúp “thống trị thương mại thế giới”. Tuy nhiên, không có lời đề nghị chính thức nào được đưa ra cho Đan Mạch.
Ý tưởng này được khơi lại năm 1910, Đại sứ Mỹ tại Đan Mạch Maurice Francis Egan đã viết thư về Bộ Ngoại giao Mỹ với nội dung mà ông gọi là “đề xuất rất táo bạo”. Trong đó, ông đề nghị đổi cho Đan Mạch đảo Mindanao thuộc Philippines, khi đó do Mỹ kiểm soát, lấy Greenland và Tây Ấn Đan Mạch (nay là quần đảo Virgin thuộc Mỹ ở Caribe).
Đến giữa Thế chiến I, Tổng thống thứ 28 của nước Mỹ Woodrow Wilson đã thúc đẩy việc mua Tây Ấn và Greenland thay vì đổi lãnh thổ như đề xuất của ông Egan. Tuy nhiên, Đan Mạch chỉ sẵn sàng bán Tây Ấn (vốn không có giá trị chiến lược với Đan Mạch mà lại trở thành gánh nặng tài chính, hành chính) và yêu cầu Mỹ phải công nhận chủ quyền của Đan Mạch đối với Greenland.
Năm 1916, để ngăn nguy cơ Tây Ấn rơi vào tay người Đức, Mỹ ký thỏa thuận mua quần đảo trên biển Caribe này bằng khối vàng 25 triệu USD; đồng thời ra tuyên bố Lansing (theo tên Ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing), trong đó nêu: “Đồng thời với việc ký công ước chuyển nhượng các đảo Tây Ấn Đan Mạch cho Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ, người ký tên dưới đây và được chính phủ ủy quyền đầy đủ, trân trọng tuyên bố rằng chính phủ Mỹ sẽ không phản đối việc chính phủ Đan Mạch mở rộng các lợi ích chính trị và kinh tế của mình ra toàn bộ Greenland”.
Đến năm 1921, Đan Mạch chính thức tuyên bố toàn bộ đảo Greenland thuộc quyền cai trị của mình. Tuyên bố Lansing về Greenland thời điểm đó cũng đặc biệt gây chú ý, một phần vì nó đi ngược lại tinh thần Học thuyết Monroe, được Tổng thống James Monroe đưa ra năm 1823, trong đó Mỹ kiên quyết ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc châu Âu tại Tây Bán cầu.
Sau tuyên bố Lansing, phần lớn cộng đồng quốc tế dần chấp nhận lập trường của Đan Mạch đối với Greenland. Quốc gia duy nhất công khai phản đối thỏa ước vào thời điểm đó là Na Uy, vốn cũng có tham vọng mở rộng hoạt động tại Bắc Cực để phục vụ ngành đánh bắt cá. Nhưng nỗ lực đó không đủ để đảo ngược tình thế.
Thế chiến II nổ ra, Đức Quốc xã chiếm đóng Đan Mạch. Năm 1941, Đại sứ Đan Mạch tại Mỹ đã ký thỏa thuận cho phép Mỹ tiếp cận Greenland để bảo vệ hòn đảo. Nhờ thỏa thuận đó, Mỹ đã xây dựng căn cứ quân sự ở phía Tây và phía Nam hòn đảo, biến chúng trở thành căn cứ hậu cần và điểm tiếp nhiên liệu quan trọng cho các máy bay bay từ Mỹ đến châu Âu. Hàng trăm binh lính Mỹ cũng được điều động đến đóng quân tại Ivittuut, một thị trấn hẻo lánh trên bờ biển phía Nam Greenland, nơi họ bảo vệ mỏ cryolit lớn nhất thế giới, loại khoáng chất dùng để luyện nhôm máy bay trong chiến tranh.
Thế chiến II kết thúc, năm 1946, Tổng thống Harry Truman đề nghị trả Đan Mạch 100 triệu USD để mua đảo, nhưng bị từ chối. Đội cố vấn của ông Truman coi Greenland là vị trí phòng thủ chiến lược then chốt để đối phó với nguy cơ oanh tạc cơ Liên Xô bay qua Vòng Bắc Cực vào Bắc Mỹ. Cuối cùng, Washington vẫn tiếp cận được Greenland thông qua việc Đan Mạch gia nhập NATO năm 1949 và một thỏa thuận quốc phòng song phương với điều khoản “tôn trọng đầy đủ chủ quyền của mỗi bên”.
Trong Chiến tranh Lạnh, Greenland thực sự trở thành tiền đồn quân sự của Mỹ trong cuộc đối đầu với Liên Xô. Năm 1951, Mỹ khởi động một chiến dịch tuyệt mật, đưa 5.000 người, 280.000 tấn hàng hóa, 500 xe tải và 129 máy ủi đến một bãi biển hoang vắng ở phía Tây Bắc Greenland, cách Bắc Cực 1.500 km và cách Moscow 4.430 km, để xây dựng nên căn cứ không quân Thule (từ 2022 đổi tên thành căn cứ Pituffik).
Khi hoàn thành, nó là một trong những căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ, chứa máy bay ném bom, tiêm kích, tên lửa hạt nhân và hơn 10.000 binh lính. Washington cũng triển khai loạt dự án quân sự ngầm trong băng, bao gồm Trại Century được trang bị máy phát điện hạt nhân để sưởi ấm các căn phòng liên tục lên 22 độ C. Đây là trung tâm nghiên cứu của quân đội Mỹ về tuyết và băng, đồng thời là lời nhắc nhở đối với Liên Xô rằng quân đội Mỹ có thể hoạt động tự do ở Bắc Cực.
Năm 1955, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ tiếp tục đề xuất với Tổng thống Dwight Eisenhower rằng nước này nên một lần nữa tìm cách mua Greenland, nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ khi đó tư vấn rằng đã quá muộn cho mọi nỗ lực hỏi mua lãnh thổ. Khi căng thẳng giữa Moscow và Washington thời Chiến tranh Lạnh từng bước hạ nhiệt, người Mỹ rút dần khỏi các căn cứ Greenland, Trại Century bị bỏ hoang từ năm 1966 với hàng trăm tấn chất thải độc hại bị băng tuyết vùi lấp.

Phương tiện cơ giới Mỹ đưa đến Greenland xây dựng căn cứ năm 1951. Ảnh: GettyImages.
Vết rạn của tình đoàn kết Tây phương
Một thế kỷ sau tuyên bố Lansing tôn trọng quyền của Đan Mạch và 7 thập kỷ sau lần đề xuất mua Greenland lần cuối, vấn đề Greenland được “đánh thức” trở lại dưới thời Tổng thống Trump. Trong nhiệm kỳ đầu, ông ví việc Mỹ sở hữu Greenland như một “thương vụ bất động sản lớn”, khiến Đan Mạch và châu Âu bối rối nhưng họ vẫn coi đó là phát ngôn mang tính ngẫu hứng. Tuy nhiên, khi trở lại Nhà Trắng đầy ngoạn mục trong nhiệm kỳ hai, lập trường của ông Trump về Greenland trở nên rõ ràng, cứng rắn và mang màu sắc chiến lược hơn hẳn.
Tháng 3/2025, ông bắt đầu cảnh báo sử dụng hàng rào thuế quan để thâu tóm Greenland. Sau đó hai tháng, ông tuyên bố không loại trừ khả năng dùng biện pháp vũ lực để đạt mục tiêu. Tháng 12/2025, Tổng thống Trump công bố chiến lược an ninh quốc gia mới, trở lại với Học thuyết Monroe, coi Tây Bán cầu, bao gồm đảo Greenland, là vùng ảnh hưởng chiến lược. Sau vụ đột kích của Mỹ vào Venezuela, đầu tháng 1/2026, trả lời câu hỏi về thứ gì có thể hạn chế quyền lực toàn cầu của ông, Tổng thống Trump gây choáng với phát biểu: “Chỉ một điều duy nhất có thể ngăn tôi lại: đó là đạo đức và tư duy của chính tôi”.
Chuỗi tuyên bố đó khiến Copenhagen và các đồng minh châu Âu không còn coi đây là “đòn gió chính trị”. Giữa tháng 1/2026, Đan Mạch buộc phải cử một phái đoàn cấp cao sang Washington, mang theo các cam kết tăng đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng và hợp tác an ninh tại Greenland, nhằm xoa dịu áp lực từ Mỹ. Tuy nhiên, các cuộc tiếp xúc không đạt được bước đột phá. Washington không che giấu ý định mở rộng quyền tiếp cận kiểu “chủ sở hữu” đối với tài nguyên khoáng sản và hạ tầng chiến lược trên đảo, trong khi Đan Mạch khẳng định chủ quyền là “lằn ranh đỏ”.
Để thể hiện sự đoàn kết với Đan Mạch, các nước châu Âu cam kết triển khai tổng cộng… 33 binh sĩ đến bảo vệ Greenland. Trong đó, Pháp cử 15 người, Đức 13, Thụy Điển 3, Na Uy và Phần Lan mỗi nước 2, Anh và Hà Lan mỗi nước 1 người. Đối với châu Âu, đây là thông điệp chính trị về chủ quyền và an ninh tập thể. Nhưng từ góc nhìn Washington, động thái này gần như không có giá trị thực tế. Thư ký báo chí Nhà Trắng thẳng thừng tuyên bố rằng lực lượng nói trên “không ảnh hưởng dù chỉ một chút” tới quyết định hay mục tiêu của Tổng thống Mỹ đối với Greenland.
Dù vậy, khả năng Mỹ sử dụng vũ lực để chiếm Greenland trên thực tế vẫn rất thấp. Một chiến dịch quân sự nhằm kiểm soát hòn đảo lớn nhất thế giới, với địa hình khắc nghiệt, khí hậu cực đoan và diện tích khổng lồ, sẽ đòi hỏi nguồn lực vượt xa lợi ích tức thời. Hơn nữa, Mỹ đã hiện diện quân sự lâu dài tại Greenland qua căn cứ Pituffik; Đan Mạch là đồng minh NATO; và bất kỳ hành động quân sự công khai nào cũng sẽ đẩy liên minh xuyên Đại Tây Dương vào khủng hoảng chưa từng có. Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen mới đây cảnh báo, việc chuyển giao Greenland cho Mỹ kiểm soát sẽ dẫn đến sự tan rã của NATO (đây sẽ là một cuộc xung đột trực tiếp giữa các đồng minh, đặt ra câu hỏi về Điều 5 của Hiến chương NATO về phòng thủ tập thể).
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà phân tích nhận định, sức ép của ông Trump mang tính “đòn bẩy chiến lược” nhiều hơn là kế hoạch chiếm đóng thực sự, buộc Đan Mạch và Greenland nới lỏng tối đa rào cản đối với việc Mỹ tiếp cận tài nguyên và hạ tầng. Tuy nhiên, họ cũng tin rằng, ngay cả khi Mỹ không xâm lược Đan Mạch, lá cờ Mỹ không tung bay trên nóc tòa nhà hành chính của hòn đảo, thì việc Mỹ - cường quốc dẫn dắt khối NATO, cũng là nước có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh nhất, công khai đe dọa chủ quyền của một nước đồng minh, khiến NATO và tình đoàn kết xuyên Đại Tây Dương khó trở lại như trước.
Sau nhiều thập kỷ, NATO được xây dựng trên giả định rằng Mỹ là trụ cột an ninh, đồng thời cũng là người bảo đảm cuối cùng cho sự ổn định và công bằng trong liên minh. Cách tiếp cận mới của ông Trump buộc các cường quốc châu Âu phải cân nhắc, hoặc điều chỉnh ưu tiên quan hệ với Mỹ.
Từ châu Âu, đã có những dấu hiệu rõ ràng hơn về sự hoài nghi đối với liên minh Tây phương. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron mới đây công khai đề cập đến nhu cầu nâng cấp năng lực phòng thủ độc lập và thể hiện sự khao khát đối với các loại vũ khí răn đe giống như tên lửa Oreshnik của Nga. Ông thúc giục châu Âu nhanh chóng phát triển vũ khí tương tự trong khuôn khổ dự án Phương pháp Tấn công Tầm xa châu Âu (ELSA). Theo Euroactiv, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen cũng thừa nhận EU chưa phải là cường quốc quân sự, nhưng phải xây dựng năng lực đó.
“Chúng ta biết rằng chúng ta cần phải mạnh mẽ và mạnh mẽ có nghĩa là gì? Nghĩa là trở thành một cường quốc quân sự”, bà nói, đồng thời gợi ý EU phải chuẩn bị một chiến lược an ninh riêng trong năm 2026. Trong động thái gây bất ngờ, nghị sĩ Clemence Goethe đồng thời là Phó Chủ tịch Quốc hội Pháp, tuần trước đã gợi ý khả năng đệ trình một dự luật về “sự cần thiết của Pháp rút khỏi liên minh NATO”.
Chưa rõ liệu Mỹ cuối cùng có đạt mục tiêu ở Đan Mạch hay không. Bên cạnh sự phản đối của đồng minh, Washington còn gặp một rào cản khác cho những tham vọng ở Greenland. Theo giới quan sát, dù Greenland là một kho báu khoáng sản, nhưng việc khai thác rất khó khăn. Trong bối cảnh Bắc Cực ấm lên với tốc độ chưa từng có, việc xem nhẹ những tác động môi trường ở Greenland có thể khiến các toan tính chiến lược nhanh chóng rơi vào bế tắc. Những trận lũ gần đây, bắt nguồn từ băng tan, đã cuốn trôi các cây cầu tồn tại suốt nửa thế kỷ. Lớp băng vĩnh cửu bên dưới Greenland đang mỏng dần đi cũng làm suy yếu nền móng của các công trình trọng yếu, từ hệ thống giao thông cho tới trạm radar chiến lược và đường băng ở căn cứ Pituffik do Mỹ vận hành.
Trong bài bình luận đăng tải ngày 14/1, Báo Conversation viết: “Trong nhiều thập kỷ, trọng tâm của Mỹ tại Greenland chủ yếu là những lợi ích trước mắt, với rất ít sự quan tâm đến tương lai lâu dài. Những căn cứ bị bỏ hoang, nằm rải rác khắp hòn đảo và nay trở thành gánh nặng cần được xử lý, là một trong những minh chứng rõ nhất. Lịch sử cho thấy không ít ý tưởng viển vông về Greenland đã thất bại, bởi chúng bỏ qua khí hậu khắc nghiệt và đặc biệt là lớp băng luôn biến đổi của hòn đảo”.














