Giải bài toán đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu vào chuỗi giá trị

Sau gần 2 năm triển khai, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL đã hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn, bước đầu tạo chuyển biến về hiệu quả sản xuất và giảm phát thải. Tuy nhiên, liên kết theo chuỗi vẫn chưa tương xứng với quy mô vùng sản xuất, đặt ra yêu cầu chuyển từ mở rộng diện tích sang tổ chức vùng nguyên liệu, kết nối doanh nghiệp, thị trường và nguồn vốn.

 Hội thảo thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư, ngày 18/8 tại TP.HCM.

Hội thảo thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư, ngày 18/8 tại TP.HCM.

Ngày 18/8, tại TP.HCM, Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn phối hợp Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn tổ chức hội thảo “Thúc đẩy liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị trong thực hiện Đề án, thu hút nguồn vốn và doanh nghiệp đầu tư”.

Tại hội thảo, các chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý tập trung phân tích những điểm nghẽn trong tổ chức liên kết sản xuất, tiêu thụ; đồng thời đề xuất giải pháp xây dựng vùng nguyên liệu, nâng vai trò HTX, ứng dụng công nghệ, số hóa dữ liệu, kết nối doanh nghiệp và huy động nguồn vốn cho Đề án.

Hiệu quả rõ rệt, liên kết chuỗi còn khiêm tốn

Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt 942.357 ha. Trong đó, 379.449 ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.

Kết quả bước đầu cho thấy lượng giống sử dụng giảm 30-50%, phân bón hóa học giảm 20-30%, nước tưới giảm 20-40%; năng suất tăng khoảng 5-12%, lợi nhuận tăng 1,5-9,3 triệu đồng/ha/vụ, trong khi phát thải giảm khoảng 3-4 tấn CO₂e/ha/vụ.

Một mô hình “Canh tác lúa thông minh” triển khai trong vụ Đông Xuân 2023-2024 tại An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang và Long An cũng ghi nhận những kết quả rõ rệt. Năng suất tăng 0,51 tấn/ha, chi phí giảm 1,3 triệu đồng/ha, lợi nhuận tăng 6,4 triệu đồng/ha, trong khi phát thải giảm gần 25%. Lượng phân đạm giảm 35 kg/ha, lượng giống giảm 82 kg/ha và số lần sử dụng thuốc giảm 1,4 lần.

Các giải pháp được áp dụng gồm quản lý nước theo hướng tưới ngập - khô xen kẽ, giảm lượng giống gieo sạ, quản lý phân bón và dịch hại, thu gom rơm rạ, tăng cường cơ giới hóa.

Những kết quả này cho thấy bài toán kỹ thuật và mở rộng diện tích đã có bước tiến. Tuy nhiên, khi đặt cạnh quy mô vùng sản xuất, khoảng cách về tổ chức liên kết vẫn còn lớn.

Theo tài liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, năm 2024 có 7 mô hình liên kết với 302 ha; năm 2025 tăng lên 39 mô hình với 1.950 ha. Đến vụ Đông Xuân 2025-2026, số mô hình liên kết đã tăng lên hơn 200, với diện tích khoảng 10.300 ha.

Con số này vẫn rất nhỏ so với 379.449 ha đã áp dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình canh tác bền vững.

Khoảng cách trên cho thấy giai đoạn tiếp theo của Đề án không chỉ là tiếp tục mở rộng diện tích hay nhân rộng quy trình kỹ thuật. Vấn đề lớn hơn là tổ chức lại vùng sản xuất thành vùng nguyên liệu, trong đó HTX, doanh nghiệp, thị trường và người trồng lúa được kết nối trong cùng một chuỗi giá trị.

Từ vùng sản xuất sang vùng nguyên liệu

Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, yêu cầu đặt ra là chuyển từ “vùng sản xuất” sang “vùng nguyên liệu”.

Một vùng nguyên liệu không chỉ được xác định bằng diện tích sản xuất mà phải có ranh giới, HTX hoặc tổ chức đại diện người sản xuất, số hộ và sản lượng, doanh nghiệp tham gia, thị trường, hợp đồng liên kết, quy trình và tiêu chuẩn sản xuất, hạ tầng, logistics, dữ liệu vùng nguyên liệu, phương án sản xuất - kinh doanh và nhu cầu vốn.

Khi những thông tin này được xác lập, vùng nguyên liệu có thể trở thành một “hồ sơ đầu tư”, thay vì chỉ là một địa bàn sản xuất.

Cách tiếp cận vì vậy cũng cần thay đổi, từ “có diện tích rồi tìm doanh nghiệp” sang tổ chức vùng nguyên liệu theo nhu cầu thị trường, xác định doanh nghiệp, xây dựng hợp đồng và phương án sản xuất trước khi huy động vốn.

Trong chuỗi đó, HTX giữ vai trò tổ chức sản xuất, tập hợp hộ dân và cung cấp các dịch vụ đầu vào, kỹ thuật, cơ giới hóa. Doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào tiêu thụ, chế biến, logistics, phát triển thị trường và đầu tư.

Hợp đồng liên kết cũng cần được cụ thể hóa từ sản phẩm, sản lượng, chất lượng, đầu vào, giá hoặc công thức giá đến giao nhận, thanh toán, phân chia lợi ích, trách nhiệm và rủi ro của các bên.

Cùng với hợp đồng là dữ liệu, diện tích, hộ sản xuất, HTX, doanh nghiệp, sản lượng, quy trình canh tác, chất lượng, hợp đồng và kết quả giảm phát thải cần được ghi nhận, kết nối và cập nhật.

Số hóa vì vậy không chỉ là câu chuyện công nghệ. Dữ liệu vùng nguyên liệu còn là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá nguồn cung, quản lý chuỗi, truy xuất sản phẩm và xây dựng phương án kinh doanh; đồng thời giúp các tổ chức tín dụng có thêm căn cứ xem xét khả năng đầu tư.

 Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt 942.357 ha, trong đó 379.449 ha áp dụng quy trình canh tác bền vững. Ảnh: Nguyễn Sơn

Đến tháng 4/2026, vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt 942.357 ha, trong đó 379.449 ha áp dụng quy trình canh tác bền vững. Ảnh: Nguyễn Sơn

Không chỉ thiếu vốn, mà thiếu chuỗi đủ sức hấp thụ vốn

Theo tài liệu của Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, nhu cầu tín dụng phục vụ Đề án khoảng 82.989 tỷ đồng. Đây là nguồn vốn lớn, nhưng để dòng vốn thực sự đi vào sản xuất, các chuỗi liên kết phải đủ điều kiện hấp thụ và sử dụng hiệu quả.

Năng lực quản trị của HTX và doanh nghiệp, chất lượng hợp đồng, dữ liệu vùng nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và dòng tiền là những yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng.

Một vùng nguyên liệu có tổ chức sản xuất rõ ràng, doanh nghiệp tham gia, hợp đồng cụ thể và dữ liệu đầy đủ sẽ có cơ sở để xây dựng phương án đầu tư, sản xuất - kinh doanh. Ngược lại, liên kết còn ngắn hạn, năng lực quản trị hạn chế, dữ liệu phân tán và dòng tiền chưa được chứng minh sẽ khiến việc thu hút vốn gặp khó khăn.

Vì vậy, bài toán vốn không chỉ là tìm nguồn tiền mà còn phải hình thành những chuỗi đủ “sẵn sàng” để hấp thụ vốn. Cùng với tín dụng, cần hoàn thiện tổ chức chuỗi, nâng chất lượng hợp đồng liên kết, phát huy vai trò “vốn mồi” của Nhà nước và gắn chất lượng, kết quả giảm phát thải với nhu cầu thị trường.

Dữ liệu phát thải trở thành một phần của giá trị hạt gạo

Khi chuỗi được tổ chức, sản phẩm không chỉ cần đáp ứng yêu cầu về sản lượng và chất lượng mà còn phải chứng minh được cách thức sản xuất và kết quả giảm phát thải.

Từ yêu cầu này, nhãn hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp được xây dựng gắn với kiểm soát quá trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Phạm vi áp dụng gồm các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau và TP Cần Thơ.

Việc sử dụng nhãn hiệu gắn với điều kiện về khu vực địa lý, quy trình kỹ thuật sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp; đồng thời kiểm soát nguồn gốc sản phẩm, quy trình sản xuất, tem nhãn, bao bì, lưu thông và quảng bá.

Năm 2025, có 18.048 ha với sản lượng 71.420 tấn gạo sử dụng nhãn hiệu Gạo Việt xanh phát thải thấp, mức giảm phát thải khoảng 3-6 tấn CO₂e/ha.

ViRiCert được giới thiệu như một giải pháp kết nối thực hành sản xuất với chứng nhận, trong đó dữ liệu sản xuất và minh chứng về quy trình là cơ sở phục vụ đánh giá, chứng nhận và nhận diện những điểm cần cải thiện.

Điều này cho thấy với gạo phát thải thấp, thay đổi phương thức canh tác mới là bước đầu. Để tạo giá trị trên thị trường, sản phẩm còn cần dữ liệu chứng minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, chất lượng và kết quả giảm phát thải.

Bên cạnh đó, phụ phẩm từ đồng lúa cũng được đặt trong chuỗi giá trị. Rơm rạ có thể được thu gom, xử lý để sản xuất phân hữu cơ và các sản phẩm khác, góp phần giảm phát thải và mở hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.

Khi thu gom rơm rạ, quản lý nước, giảm lượng giống, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý dịch hại và cơ giới hóa được tổ chức trong cùng một chuỗi, giá trị không chỉ đến từ hạt gạo mà còn có thể được tạo ra từ chính phụ phẩm của quá trình sản xuất.

Thu hẹp khoảng cách từ vùng sản xuất đến chuỗi giá trị

Đề án 1 triệu ha đã tạo nền tảng quan trọng về quy mô vùng chuyên canh và thay đổi phương thức canh tác. Những mô hình thực tế cũng cho thấy khả năng giảm chi phí, tăng lợi nhuận và giảm phát thải trong sản xuất lúa.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa sản xuất theo quy trình bền vững và tổ chức liên kết cho thấy dư địa xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo vẫn còn rất lớn.

Giai đoạn 2026-2030 cần chuyển mạnh từ mục tiêu phát triển diện tích sang nâng cao “chất lượng tổ chức” của vùng lúa. HTX phải được củng cố, doanh nghiệp tham gia sâu hơn, hợp đồng liên kết chặt hơn, dữ liệu được số hóa, nguồn vốn được kết nối và thị trường trở thành cơ sở để tổ chức sản xuất.

Khi vùng nguyên liệu được định danh, dữ liệu được kết nối, hợp đồng được củng cố và doanh nghiệp tham gia sâu hơn, khả năng tiếp cận nguồn vốn cũng có thêm cơ sở.

Đó cũng là bước chuyển từ những vùng sản xuất lớn sang các vùng nguyên liệu có khả năng kết nối với doanh nghiệp, thị trường và các tổ chức tài chính, qua đó đưa hạt gạo chất lượng cao, phát thải thấp tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị./.

Nguyễn Sơn

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/giai-bai-toan-dua-hat-gao-chat-luong-cao-phat-thai-thap-tien-sau-vao-chuoi-gia-tri-16603.html