Giải bài toán môi trường tại các làng nghề
Các làng nghề trên địa bàn tỉnh đang tạo sinh kế cho nhiều lao động địa phương và làm nên bản sắc của mỗi vùng đất. Tuy nhiên, khi sản xuất ngày càng mở rộng, một câu hỏi cũng trở nên cấp thiết hơn: Làm thế nào để những làng nghề tiếp tục phát triển mà không phải đánh đổi môi trường sống?

Xưởng sản xuất đồ gỗ của chị Phạm Thị Huyền (làng nghề mộc truyền thống xã Vạn Thắng) ứng dụng máy móc hiện đại, giảm đáng kể nguy cơ ô nhiễm bụi, tiếng ồn.
Làng nghề rèn truyền thống Vân Chàng, xã Nam Trực có nghề rèn, cơ khí hình thành và phát triển từ hàng trăm năm, mang lại sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của sản xuất, làng nghề cũng phải đối mặt với những vấn đề môi trường do hoạt động gia công kim loại như bụi, khói, tiếng ồn, xỉ và phế liệu kim loại.
Những năm gần đây, trước yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường, các hộ sản xuất trong làng nghề đã từng bước thay đổi máy móc, công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất, tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải ra môi trường.
Tại xưởng sản xuất của ông Cao Xuân Đông, một hộ làm nghề tại xã Nam Trực, trước đây hoạt động sản xuất sử dụng hàng tấn than mỗi ngày, phát sinh nhiều khói bụi. Những năm trở lại đây, gia đình đã chuyển phần lớn công đoạn sang sử dụng lò điện, giúp quá trình sản xuất nhanh và thuận tiện hơn, đồng thời giảm đáng kể lượng than tiêu thụ. Hiện mỗi ngày gia đình chỉ sử dụng khoảng 50 kg than cho những công đoạn cần thiết.
Ông Cao Xuân Đông cho biết: “Trước đây, xưởng dùng lò than vừa mất thời gian, vừa nhiều khói bụi. Từ khi tôi chuyển sang lò điện, sản xuất nhanh hơn, môi trường trong xưởng cũng sạch hơn. Nhờ đầu tư máy móc, công nghệ, cơ sở duy trì việc làm thường xuyên cho 4 lao động, với thu nhập khoảng 350.000-400.000 đồng/người/ngày”.

Ông Cao Xuân Đông (làng nghề rèn truyền thống Vân Chàng) giới thiệu các sản phẩm nông cụ của cơ sở.
Việc đổi mới công nghệ không chỉ giúp các hộ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của người làm nghề, góp phần giảm ô nhiễm phải bắt đầu ngay từ công nghệ, nhiên liệu và từng công đoạn sản xuất.
Theo ông Cao Xuân Nghị, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Trực, hiện địa phương có 2 làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng cơ khí, kim loại. Trong đó, làng nghề truyền thống Vân Chàng chủ yếu sản xuất nông cụ; làng nghề truyền thống Đồng Côi sản xuất các sản phẩm cơ khí phục vụ doanh nghiệp.
Trong những năm qua, các làng nghề, cụm công nghiệp đã tạo việc làm ổn định cho hàng chục nghìn lao động địa phương và khu vực lân cận. Năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của xã đạt trên 480 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm trước, trong đó, có sự đóng góp đáng kể của nghề cơ khí. Tuy nhiên, sản xuất càng phát triển thì yêu cầu kiểm soát tác động tới môi trường càng trở nên cấp thiết, đặt ra cho địa phương bài toán vừa duy trì sinh kế, thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm phát triển bền vững.
Theo ông Nghị, bên cạnh khuyến khích các hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất thay thế máy móc, công nghệ cũ, lạc hậu, địa phương đã thành lập các tổ, đội tại những thôn có làng nghề để tăng cường kiểm tra, giám sát; phối hợp với cơ quan chuyên môn kiểm tra những cơ sở có nguy cơ tác động lớn đến môi trường, tiếp nhận và xác minh phản ánh của người dân, đồng thời theo dõi việc khắc phục sau kiểm tra.
Một giải pháp quan trọng khác là từng bước tổ chức lại không gian sản xuất, đưa các cơ sở vào các khu, cụm sản xuất tập trung. Trên địa bàn hiện có Cụm công nghiệp Vân Chàng quy mô khoảng 7 ha và Cụm công nghiệp Đồng Côi quy mô khoảng 40 ha. Hiện Cụm công nghiệp Đồng Côi đang tiếp tục hoàn thiện giai đoạn 2 với diện tích hơn 24 ha.
Ông Cao Xuân Nghị, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Trực cho biết: “Xã phối hợp với chủ đầu tư yêu cầu các cơ sở, nhà đầu tư thứ cấp thực hiện đầy đủ quy định về bảo vệ môi trường. Việc đưa sản xuất vào các khu, cụm tập trung vừa tạo điều kiện cho các cơ sở đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất, vừa thuận lợi hơn trong đầu tư hạ tầng và kiểm soát môi trường”.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường, sau hợp nhất, Ninh Bình là địa phương có quy mô phát triển nghề, làng nghề lớn nhất vùng đồng bằng sông Hồng, với trên 102.500 cơ sở sản xuất, gần 200.000 lao động, 171 làng nghề được công nhận và hàng trăm sản phẩm truyền thống nổi tiếng cả nước.

Làng nghề Sinh Dược, phường Tây Hoa Lư tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương.
Nghề và làng nghề không chỉ tạo sinh kế, đóng góp hơn 25.000 tỷ đồng doanh thu mỗi năm, mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần, tạo dựng niềm tự hào cộng đồng.
Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề hiện nay cũng đang đối mặt với không ít thách thức, nhất là mô hình sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán; hạ tầng chưa đồng bộ và áp lực ô nhiễm môi trường ngày càng rõ nét.
Hiện, khoảng 60% số cơ sở tại các làng nghề vẫn hoạt động dưới hình thức hộ gia đình. Cấu trúc này giúp nghề truyền thống bám rễ trong cộng đồng nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân khiến cho sản xuất phân tán, manh mún; hạn chế khả năng đầu tư công nghệ, hạ tầng ở quy mô lớn nên đã có những tác động tiêu cực đến môi trường.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 10 làng nghề được đánh giá có nguy cơ ô nhiễm cao. Hầu hết các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải, chất thải tập trung; việc xử lý chủ yếu vẫn ở quy mô hộ gia đình hoặc theo cách tự phát. Nhiều làng nghề cũng chưa có mặt bằng sản xuất tập trung, thiếu điểm tập kết nguyên liệu, kho chứa và các công trình phụ trợ cần thiết.
Để bảo tồn và phát triển bền vững nghề, làng nghề, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia phát triển làng nghề, gắn sản xuất với tiêu thụ, xuất khẩu và các chương trình OCOP, công nghiệp văn hóa, du lịch cộng đồng; đầu tư, hoàn thiện hạ tầng sản xuất, du lịch và xử lý môi trường tại các làng nghề; bảo tồn giá trị văn hóa, tôn vinh nghệ nhân, đào tạo và thu hút thế hệ trẻ kế nghiệp; hỗ trợ xây dựng thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, ứng dụng thương mại điện tử, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề.

Bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề gắn với khai thác du lịch tại làng nghề thêu ren Văn Lâm, phường Nam Hoa Lư.
Giải bài toán môi trường làng nghề không phải là lựa chọn giữa phát triển kinh tế hay bảo vệ môi trường, mà là tìm ra hướng đi để hai mục tiêu này song hành. Điều đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, từ quy hoạch lại không gian sản xuất, đổi mới công nghệ theo hướng sạch hơn, kiểm soát tốt chất thải đến nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề.
Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Ninh Bình định hướng phát triển làng nghề gắn với sản phẩm OCOP, du lịch trải nghiệm và công nghiệp văn hóa. Khi đó, môi trường không chỉ là câu chuyện xử lý ô nhiễm hay bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà trở thành một phần của chất lượng sản phẩm, hình ảnh điểm đến và năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Giữ được nghề, giữ được môi trường và nâng được giá trị sản phẩm chính là nền tảng để những làng nghề truyền thống của Ninh Bình tiếp tục sống, phát triển và tạo ra giá trị bền vững trong đời sống hiện đại.
