Giai đoạn 2022 - 2024: Hơn 1.000 ca ghép tạng/năm tại Việt Nam

Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, Hội Ghép tạng Việt Nam vừa phối hợp tổ chức Hội nghị Quốc tế về hiến, ghép tạng Việt Nam năm 2026. Hội nghị quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới đến từ những quốc gia có hệ thống hiến, ghép tạng phát triển cùng các nhà quản lý y tế, chuyên gia đầu ngành Việt Nam.

Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng ghép tạng

Tại Hội nghị, các chuyên gia đã trao đổi kinh nghiệm xây dựng hệ thống hiến, ghép tạng hiệu quả, minh bạch, bền vững; chia sẻ các mô hình thành công trong phát triển nguồn tạng từ người hiến chết não; thảo luận các yếu tố then chốt về pháp lý, đạo đức y học, điều phối tạng. Những nội dung này có thể được Việt Nam tham khảo để tiếp tục hoàn thiện khung chính sách và tổ chức hệ thống hiến, ghép tạng phù hợp với thực tiễn.

Theo báo cáo, dù khởi đầu muộn hơn thế giới gần nửa thế kỷ và chậm hơn các quốc gia trong khu vực khoảng 20 năm, nhưng ngành ghép tạng ở Việt Nam đã đạt tốc độ phát triển ấn tượng. Số liệu thống kê cho thấy, kể từ ca ghép thận đầu tiên thực hiện tại Học viện Quân y năm 1992, sau hơn 30 năm triển khai, Việt Nam đã thực hiện gần 10.000 ca ghép tạng. Chỉ trong 3 năm (2022 - 2024), hơn 1.000 ca ghép tạng mỗi năm đã được thực hiện tại 31 bệnh viện (BV), đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng ghép tạng.

Đến nay, Việt Nam đã thực hiện ghép được 6 loại bộ phận cơ thể người, trong đó chủ yếu là ghép thận với 8.904 ca, gan 754 ca, 126 ca ghép tim, 13 ca ghép phổi, 3 ca ghép chi trên, 2 ca ghép ruột và hàng trăm ca ghép mô (ghép giác mạc, ghép da, tế bào gốc). Năm 2025, Việt Nam lần đầu tiên ghép cùng lúc tim - phổi.

GS.TS.BS Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam cho biết, hiện Việt Nam đã thực hiện ghép cả 6 loại tạng gồm thận, gan, tim, phổi, ruột, tụy. Với các tạng ghép phổ biến như thận, gan và tim, Việt Nam đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật phức tạp đang được áp dụng trên thế giới. Riêng ghép gan, một trong những phẫu thuật khó nhất, Việt Nam đã triển khai thành công ghép gan cho trẻ dưới 1 tuổi và người cao tuổi, ghép không cùng nhóm máu, ghép trong suy gan cấp, đến lấy - ghép gan bằng phẫu thuật nội soi và kỹ thuật chia gan.

Tỷ lệ sống còn sau 1 năm với bệnh nhân ghép thận khoảng 90 - 95%; ghép gan 80 - 90%; ghép tim 85 - 90%. Phần lớn bệnh nhân sau ghép có hòa hợp miễn dịch tốt, tái hòa nhập cuộc sống bình thường, đi học, đi làm, hạn chế nhập viện tái diễn.

Thậm chí người ghép thận mang thai và sinh con mà không còn cần tới máy lọc máu và nhiều bệnh nhân đã duy trì thận ghép trong cơ thể lên tới 25 - 30 năm mới phải ghép lại.

Trong số những bệnh nhân được ghép tạng năm 1992, có những người có tạng ghép sống được 30 năm trong cơ thể và tới 2023 mới phải thực hiện phẫu thuật ghép lại lần hai. Điều này chứng minh y học Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật hiện đại, mở ra cơ hội sống lâu dài và chất lượng cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối.

Cần xây dựng một hệ thống hiến tạng đủ mạnh

Theo PGS.TS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, nhiều ý kiến tại Hội nghị mang tới những kinh nghiệm thực tiễn về hiến tạng, có thể áp dụng được Việt Nam từ các mô hình thành công tại các nước như: Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Tây Ban Nha, Pháp… từ đó đưa ra những định hướng, những kế hoạch cụ thể cho lĩnh vực hiến tạng tại Việt Nam trong những năm tới.

Mặc dù Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về số lượng ca ghép tạng, tuy nhiên hơn 80% số ca ghép vẫn dựa vào nguồn tạng từ người hiến sống. Tạng hiến từ người chết não chỉ chiếm gần 20%, thấp hơn nhiều so với các quốc gia, như Thái Lan khoảng 60%, Trung Quốc 80%. Thực tế cho thấy, nhiều cơ sở ghép tạng có số ca thực hiện còn hạn chế không phải do năng lực chuyên môn, mà chủ yếu xuất phát từ tình trạng thiếu nguồn tạng hiến.

Sau hơn 30 năm triển khai, Việt Nam đã thực hiện gần 10.000 ca ghép tạng.
(Ảnh trog bài: H.Minh)

PGS.TS Hệ nhấn mạnh, kỹ thuật ghép tạng của Việt Nam đã đạt trình độ cao, nhưng để phát triển bền vững, cần xây dựng một hệ thống hiến tạng đủ mạnh, với sự tham gia của toàn xã hội và tất cả các BV. Khi nguồn hiến được bảo đảm, chuyên ngành ghép tạng sẽ cứu sống thêm nhiều người bệnh.

Hiện nay, cả nước có 31 cơ sở đủ điều kiện thực hiện ghép tạng, tập trung chủ yếu ở các BV tuyến Trung ương và một số BV lớn thuộc khối công lập. Con số này chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh suy tạng giai đoạn cuối.

Theo PGS.TS Hệ, một số BV thường xuyên quá tải số lượng bệnh nhân chờ ghép tạng và số lượng này ngày càng tăng trong khi nguồn tạng hiến còn rất hạn chế. Thời gian chờ ghép không cố định, có thể kéo dài nhiều năm với bệnh nhân chờ ghép thận, còn người bệnh suy gan, suy tim, suy phổi giai đoạn cuối thường phải chờ trong tình trạng nguy kịch. Việc chờ đợi kéo dài khiến nhiều bệnh nhân suy kiệt, tăng nguy cơ biến chứng và tử vong, không ít trường hợp không kịp chờ đến khi có tạng phù hợp, bỏ lỡ cơ hội được ghép và cứu sống.

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc mở rộng mạng lưới BV tham gia hiến - ghép tạng, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa công tác điều phối, khung pháp lý, chuyên môn và đạo đức y học; đầu tư đồng bộ về nhân lực và cơ sở vật chất; nhằm đáp ứng nhu cầu lấy, ghép tạng của bệnh nhân.

Bùi Chánh Yên

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/giai-doan-2022-2024-hon-1-000-ca-ghep-tang-nam-tai-viet-nam.html