Giảm 30% thuế thu nhập, tạo sức bật cho khu vực kinh doanh nhỏ
Giảm 30% số thuế thu nhập trong 2 năm 2026-2027, cùng việc mở rộng phạm vi áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản, giúp hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ cải thiện dòng tiền, giảm chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, cần kiểm soát việc chia nhỏ doanh thu, không để ngưỡng 10 tỷ đồng trở thành “điểm gãy” làm sai lệch hành vi kinh doanh.

Hộ kinh doanh được tạo thuận lợi trong kê khai, tính và nộp thuế. (Ảnh: TL)
Thêm nguồn lực, giảm chi phí tuân thủ
Với 480/481 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 đối với cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng.
Theo Nghị quyết, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp nếu doanh thu hằng năm của năm tương ứng không quá 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, có doanh thu trong cùng ngưỡng, cũng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Trường hợp doanh nghiệp đang hưởng ưu đãi thuế theo quy định hiện hành, số thuế được giảm tính trên số thuế phải nộp sau khi đã trừ ưu đãi. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 24/8/2026, áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, chính sách dự kiến làm giảm thu ngân sách khoảng 3.191 tỷ đồng năm 2026 và 3.510 tỷ đồng năm 2027, tổng cộng khoảng 6.701 tỷ đồng.

PGS,TS Lê Xuân Trường, Trưởng Khoa Thuế-Hải quan, Học viện Tài chính. (Ảnh: TCDN)
PGS,TS Lê Xuân Trường, Trưởng Khoa Thuế-Hải quan, Học viện Tài chính cho rằng, khoản ngân sách giảm thu cũng chính là nguồn lực được giữ lại cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng mỗi năm.
Các chủ thể được thụ hưởng có thể sử dụng nguồn tiền này để bổ sung vốn kinh doanh, đầu tư tài sản cố định, trả nợ ngân hàng, thanh toán cho nhà cung cấp hoặc nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm mới. Chính sách vì vậy vừa giảm áp lực tài chính trước mắt, vừa tạo thêm điều kiện duy trì và mở rộng hoạt động.
Theo PGS,TS Lê Xuân Trường, trong bối cảnh giá năng lượng ở mức cao, chi phí đầu vào tăng và chuỗi cung ứng toàn cầu tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn, việc Nhà nước chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh có ý nghĩa rất lớn. Đây là nhóm thường có nguồn lực tài chính và khả năng chống chịu trước biến động thấp hơn các doanh nghiệp lớn.
Cùng với giảm thuế, việc nâng ngưỡng doanh thu để lựa chọn áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng mỗi năm cũng được kỳ vọng tạo tác động đáng kể.
Với phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, hộ kinh doanh chỉ phải thực hiện chế độ sổ sách kế toán đơn giản, không phải hạch toán chi phí đầu vào để xác định thu nhập tính thuế. Nhiều phần mềm hiện nay cũng có thể hỗ trợ ghi nhận doanh thu, tính và khai thuế, kết nối với cổng thông tin điện tử và ứng dụng eTax Mobile của cơ quan thuế.
PGS,TS Lê Xuân Trường cho biết, việc nâng ngưỡng doanh thu sẽ giúp gần 20.000 hộ kinh doanh được bổ sung vào diện áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản, bên cạnh hơn 76.000 hộ có doanh thu trên 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng đã áp dụng trước đó.
Trong khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh thường xuyên, ổn định do cơ quan thuế quản lý, dự kiến khoảng 2,6 triệu hộ thuộc diện được miễn thuế, 96.000 hộ áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản và chỉ khoảng 3.900 hộ nộp thuế theo phương pháp tính trên thu nhập tính thuế, phải hạch toán cả doanh thu và chi phí.
Như vậy, gần 20.000 hộ được bổ sung vào diện áp dụng phương pháp đơn giản sẽ giảm được chi phí thuê kế toán cũng như thời gian dành cho ghi chép sổ sách, kê khai và tính thuế.
Phạm vi áp dụng không giới hạn ở hộ, cá nhân kinh doanh. Theo số liệu được PGS,TS Lê Xuân Trường dẫn lại, ngoài khoảng 96.000 hộ kinh doanh, có khoảng 865.115 doanh nghiệp thuộc diện áp dụng phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp đơn giản.
Điều này cho thấy số lượng đối tượng được giảm chi phí tuân thủ rất lớn. Chính sách cũng thể hiện quan điểm kiến tạo, hỗ trợ của Nhà nước, góp phần củng cố động lực đầu tư, phát triển sản xuất và tạo thêm việc làm.
Không để ngưỡng 10 tỷ đồng trở thành “điểm gãy”
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, PGS,TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, thành viên Hiệp hội tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, chính sách giảm thuế cần được nhìn nhận trong tổng thể điều hành tài khóa. Vấn đề không dừng ở việc ngân sách giảm thu khoảng 6.701 tỷ đồng trong hai năm, mà còn ở khả năng khoản tiền được giữ lại tạo thêm hoạt động sản xuất, đầu tư và tiêu dùng.

PGS,TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, thành viên Hiệp hội tư vấn tài chính Việt Nam.
Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh, nguồn vốn giữ lại thường được đưa nhanh vào hoạt động thông qua mua nguyên liệu, hàng hóa, trả lương, thuê mặt bằng hoặc bổ sung vốn lưu động. Khi tiếp tục được quay vòng, nguồn tiền này có thể tạo doanh thu cho các chủ thể khác, duy trì việc làm và trở lại ngân sách thông qua các khoản thu từ hoạt động kinh tế mở rộng.
Theo PGS,TS Ngô Trí Long, cần chuyển từ câu hỏi ngân sách giảm bao nhiêu sang xem khoản giảm thu tạo thêm bao nhiêu hoạt động kinh tế trong những năm tiếp theo. Đây là cách tiếp cận theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu, trong đó sức khỏe của doanh nghiệp và hộ kinh doanh là nền tảng tạo nguồn thu bền vững.
Chính sách lần này tập trung vào các chủ thể có doanh thu không quá 10 tỷ đồng mỗi năm, thay vì giảm thuế đại trà. Theo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, với ngưỡng này, khoảng 99,86% cá nhân, hộ kinh doanh và hơn 81,11% doanh nghiệp được hưởng chính sách.
PGS,TS Ngô Trí Long nhận định, khu vực kinh doanh nhỏ có số lượng lớn nhưng “tấm đệm” tài chính thường mỏng. Một thời gian ngắn doanh thu suy giảm hoặc chi phí tăng cao cũng có thể khiến cơ sở kinh doanh phải thu hẹp hoạt động, tạm ngừng hoặc rời khỏi thị trường.
Bởi vậy, giảm thuế không phải là hỗ trợ kéo dài cho những đơn vị hoạt động kém hiệu quả, mà nhằm giảm áp lực tài chính trong một giai đoạn nhất định, giúp các cơ sở có thị trường, có năng lực nhưng thiếu nguồn lực tiếp tục hoạt động và phát triển.
Chính sách còn có thể thúc đẩy quá trình chính thức hóa khu vực hộ kinh doanh. Khi quản lý thuế chuyển mạnh sang hóa đơn điện tử, thanh toán số và kê khai dựa trên dữ liệu, mức độ minh bạch sẽ tăng lên. Tuy nhiên, quá trình này chỉ bền vững nếu lợi ích hộ kinh doanh nhận được từ việc tuân thủ cao hơn chi phí phát sinh.
Nếu việc kê khai đầy đủ, sử dụng hóa đơn và thực hiện chế độ kế toán chỉ làm nghĩa vụ tăng lên, hộ kinh doanh có thể e ngại. Ngược lại, nếu đi cùng thủ tục đơn giản, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận tín dụng tốt hơn và chính sách thuế phù hợp, động lực chuyển đổi sẽ được củng cố.
Tuy nhiên, PGS,TS Ngô Trí Long lưu ý, ngưỡng doanh thu 10 tỷ đồng có thể tạo ra một “điểm gãy” về quyền lợi. Chủ thể có doanh thu không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế phải nộp, nhưng nếu vượt ngưỡng sẽ không còn thuộc diện hưởng chính sách. Chênh lệch này có thể làm phát sinh hành vi trì hoãn ghi nhận doanh thu, chia nhỏ hoạt động hoặc chuyển doanh thu sang chủ thể khác.
Nghị quyết đã quy định không áp dụng giảm thuế đối với doanh nghiệp được hình thành từ việc chia, tách sau ngày Nghị quyết có hiệu lực nếu tổng doanh thu của các doanh nghiệp được chia, tách trong năm 2026 hoặc năm 2027 trên 10 tỷ đồng.
Cùng quan điểm cần ngăn ngừa trục lợi, PGS,TS Lê Xuân Trường cho rằng phải quy định rõ đối tượng không được hưởng chính sách; đồng thời xây dựng thủ tục và cách thức xác định đối tượng giảm thuế rõ ràng, đơn giản. Dữ liệu hóa đơn điện tử, mã số thuế, tài khoản thanh toán và thông tin về các bên có quan hệ cũng cần được khai thác để nhận diện rủi ro.
Theo PGS,TS Ngô Trí Long, sau năm 2027, hiệu quả chính sách không nên chỉ được tổng kết bằng số người thụ hưởng và số thuế đã giảm. Cần đánh giá số doanh nghiệp tiếp tục hoạt động, mức tăng doanh thu và đầu tư, số việc làm được duy trì hoặc tạo mới, số hộ chuyển đổi thành doanh nghiệp và mức độ mở rộng cơ sở người nộp thuế.
Nếu khoản giảm thu khoảng 6.701 tỷ đồng giúp nhiều cơ sở kinh doanh tồn tại, phát triển, tạo việc làm và tham gia đầy đủ hơn vào khu vực kinh tế chính thức, đây sẽ là chính sách tài khóa hiệu quả. Ngược lại, nếu ưu đãi chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn mà không cải thiện năng lực sản xuất, kinh doanh, chính sách cần được đánh giá lại.
Về lâu dài, PGS,TS Lê Xuân Trường đề nghị tiếp tục nghiên cứu sửa đổi quy định phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm cơ sở áp dụng các chính sách hỗ trợ phù hợp hơn với điều kiện kinh tế-xã hội.
Mục tiêu cuối cùng không phải duy trì một khu vực kinh doanh nhỏ phụ thuộc vào ưu đãi, mà giúp các chủ thể tăng sức chống chịu, mở rộng quy mô và trở thành những người nộp thuế bền vững hơn. Khi đó, khoản giảm thu trước mắt có thể trở thành nguồn lực nuôi dưỡng tăng trưởng và nguồn thu ngân sách trong tương lai.
