Giám định thương tích trong giám định pháp y: Chuẩn hóa để mỗi kết luận thật sự khách quan, khoa học
(PLVN) - Tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y là một yếu tố định lượng then chốt trong hoạt động tố tụng hình sự. Nhưng thực tế cho thấy, vẫn tồn tại những trường hợp kết quả giám định khác nhau giữa các cơ quan giám định. Điều này đặt ra vấn đề, hoạt động giám định thương tích trong giám định pháp y phải thay đổi cả về lượng và chất để có sự thống nhất, nhằm bảo đảm kết quả cuối cùng là các vụ án được xử lý đúng người, đúng tội, trở thành nền tảng vững chắc cho việc thực thi công lý.
Khái niệm về tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y
Về mặt thuật ngữ, pháp luật chuyên ngành hiện sử dụng khái niệm “tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể” (tỷ lệ % TTCT). Đây là kết quả lượng hóa mức độ tổn hại về cấu trúc và chức năng cơ thể tại thời điểm giám định, trên cơ sở tổn thương thực tế, di chứng, biến chứng và mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống, nghề nghiệp của người được giám định. Chỉ số này cần được phân biệt với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động trong giám định y khoa; đồng thời không đồng nhất với mức bồi thường dân sự và cũng không tự động quyết định tội danh.
Trong tố tụng hình sự, kết luận giám định là nguồn chứng cứ mang tính chuyên môn, phải được xem xét cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Trong thực tiễn xét xử, mỗi vụ việc dù chỉ chênh lệch 1 phần trăm tỷ lệ thương tích cũng có thể dẫn đến sự thay đổi khung hình phạt, mức độ đền bù…
Tỷ lệ % TTCT có ý nghĩa là từng “điểm phần trăm” thể hiện rõ ở các ngưỡng định lượng thường gặp trong Điều 134 Bộ luật Hình sự về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, như các ngưỡng 11%, 31% và 61%. Tuy nhiên, tỷ lệ dưới 11% không đồng nghĩa đương nhiên với việc hành vi không bị xử lý hình sự, bởi pháp luật còn xem xét công cụ, phương tiện, tính chất hành vi, đối tượng bị xâm hại và những tình tiết định tội khác.
Tương tự, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, tỷ lệ % TTCT chỉ là một căn cứ tham khảo quan trọng; việc bồi thường còn phụ thuộc vào chi phí hợp lý cho điều trị, thu nhập bị mất hoặc giảm sút, chi phí chăm sóc và tổn thất khác…
Vì sao có thể xuất hiện những kết luận khác nhau về tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y?
Từ ngày 1/5/2026, hoạt động giám định tư pháp được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 và Nghị định số 177/2026/NĐ-CP. Luật xác lập các yêu cầu cốt lõi: tuân thủ pháp luật, quy trình và quy chuẩn chuyên môn; trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời; độc lập khi đưa ra kết luận; chỉ kết luận trong phạm vi nội dung được trưng cầu, yêu cầu và chịu trách nhiệm về kết luận của mình.
Trong lĩnh vực y tế, Thông tư số 08/2026/TT-BYT hướng dẫn quy trình, hồ sơ và tổ chức thực hiện giám định tư pháp; còn Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định bảng tỷ lệ và phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

(Ảnh minh họa).
Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, tỷ lệ % TTCT được xác định tại thời điểm giám định; tổng tỷ lệ của một người phải nhỏ hơn 100%; mỗi bộ phận cơ thể bị tổn thương chỉ được tính một lần, trừ trường hợp có biến chứng hoặc di chứng sang bộ phận khác; nhiều tổn thương được tổng hợp theo phương pháp cộng lùi chứ không cộng số học đơn thuần. Những nguyên tắc này cho thấy con số cuối cùng không thể được suy ra chỉ từ tên chẩn đoán, mà phải gắn với tình trạng thực tế, chức năng còn lại, diễn biến điều trị và tài liệu khách quan của từng trường hợp.
Nhưng thực tế cho thấy, vẫn tồn tại những trường hợp kết quả giám định khác nhau giữa các cơ quan giám định. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều yếu tố như thời gian - thời điểm thực hiện công tác giám định, các phương pháp đánh giá, cũng như điều kiện trang thiết bị, năng lực giám định viên…
Theo lý giải của bà Nguyễn Thị Ngọc Yến - Giám đốc Trung tâm Pháp y Hà Nội, sự khác nhau giữa các kết luận giám định không đương nhiên chứng minh rằng một kết luận sai hoặc có tiêu cực. Kết quả có thể thay đổi do thời điểm giám định khác nhau, tổn thương đã hồi phục hoặc phát sinh di chứng, hồ sơ được bổ sung, câu hỏi trưng cầu khác nhau, đối tượng giám định chưa được cung cấp đầy đủ, hoặc phương pháp và thiết bị đánh giá có độ nhạy khác nhau. Vấn đề cần làm rõ không chỉ là “con số nào cao hơn”, mà là kết luận nào có nền tảng khoa học, dữ liệu đầu vào và chuỗi lập luận thuyết phục hơn.
Pháp luật hiện hành phân biệt giám định bổ sung và giám định lại. Giám định bổ sung được thực hiện khi kết luận chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới; giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận lần đầu không chính xác. Khi các kết luận về cùng một nội dung vẫn khác nhau và cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất được việc sử dụng, Điều 35 Luật Giám định tư pháp năm 2025 yêu cầu đánh giá trên bốn nhóm tiêu chí: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người giám định; phương pháp và quy trình thực hiện; trang thiết bị, phương tiện chuyên dụng; mức độ độc lập, khách quan của hoạt động giám định. Đây là cơ sở quan trọng để tránh tư duy máy móc rằng kết luận sau luôn đúng hơn kết luận trước hoặc kết luận của tuyến cao hơn mặc nhiên có giá trị tuyệt đối.
“Do đó, đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có sự chuẩn hóa đầu vào với tiêu chuẩn ở mức cao (không vì thiếu người mà lấy tiêu chuẩn thấp sẽ rất khó khăn trong việc kỳ vọng có được một lực lượng các giám định viên có đủ năng lực chuyên môn đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ); phải đẩy mạnh công tác đào tạo thường xuyên, nâng cao trình độ cho các giám định viên. Đồng thời chuẩn hóa về việc đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho tất cả các cơ quan giám định đặc biệt tại các địa phương có quy mô dân số lớn và những nơi có tình hình tội phạm phức tạp… Không nên đầu tư dàn trải thiếu tập trung, có thể lựa chọn những hạng mục chuyên ngành, đặc thù để đầu tư. Các trang thiết bị đại trà có ở những cơ sở khác có thể phối hợp để sử dụng. Như vậy vừa tiết kiệm và vừa hiệu quả. Các đơn vị ở địa phương cũng làm được những kỹ thuật cao như tuyến trung ương”, theo bà Yến. (Còn tiếp)
Cũng theo bà Yến, bên cạnh tiêu chuẩn đầu vào, hệ thống giám định cần được xây dựng theo mô hình kiểm soát chất lượng liên tục: đào tạo và cập nhật kiến thức định kỳ; thường xuyên đánh giá chất lượng đầu ra là các bản kết luận giám định; đánh giá năng lực theo từng chuyên ngành; chuẩn hóa cách tiếp nhận, niêm phong, lưu giữ và bàn giao hồ sơ, mẫu vật; kiểm định, hiệu chuẩn, bảo trì thiết bị; ghi nhận đầy đủ quá trình giám định bằng văn bản hoặc dữ liệu điện tử; tổ chức hội chẩn, phản biện nội bộ đối với vụ việc phức tạp; và xây dựng cơ chế chuyển tuyến hoặc phối hợp liên viện khi vượt quá năng lực chuyên môn, kỹ thuật của đơn vị. Đầu tư tập trung theo mạng lưới, đi kèm cơ chế chia sẻ thiết bị và chuyên gia, sẽ hiệu quả hơn việc mỗi đơn vị đều mua sắm đầy đủ nhưng không đủ nhân lực vận hành hoặc không bảo đảm tần suất sử dụng. Cần chú trọng công tác số hóa hồ sơ giám định, kiểm soát quy trình giám định và lưu trữ tài liệu để nâng cao chất lượng công tác giám định.
“Mỗi kết luận giám định không chỉ là một con số mà còn là một quyết định mang tính định đoạt trách nhiệm của một người. Do đó, mỗi một bản kết luận giám định đòi hỏi các giám định viên phải thật sự cẩn thận, lập luận chặt chẽ, logic, có bằng chứng khoa học khách quan. Các đối tượng khi được thực hiện giám định pháp y thương tích, phần lớn đưa ra nhiều hơn các triệu chứng chủ quan, thậm chí ngay cả hồ sơ bệnh án… cũng có thể bị làm sai lệch do cố tình hoặc do lẫn với tổn thương cũ hoặc do bệnh lý có sẵn, nên giám định viên phải là người “nhìn thấu” được những điểm bất thường đó, để nhận định và đánh giá chính xác”, bà Yến nhấn mạnh.
"Trung tâm Pháp y Hà Nội phối hợp thực hiện"
