Giảm lãi suất huy động: Cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định vĩ mô
Làn sóng giảm lãi suất huy động đang lan rộng trong hệ thống ngân hàng ngay sau chỉ đạo điều hành từ Ngân hàng Nhà nước, với kỳ vọng kéo giảm chi phí vốn, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, phía sau động thái này là bài toán điều hành phức tạp khi áp lực từ lạm phát, tỷ giá và thanh khoản vẫn hiện hữu.

Khách hàng giao dịch tại Hội sở chính Vietcombank. Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN
Từ “lệch pha” về trạng thái hợp lý
Ngay sau ngày nhậm chức, tức là 9/4, ông Phạm Đức Ấn - Tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chủ trì cuộc họp đầu tiên với 46 tổ chức tín dụng và phát đi thông điệp điều hành quan trọng cho thị trường tài chính năm 2026.
Theo định hướng được công bố, cơ quan quản lý đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát quanh mức 4,5%/năm; đồng thời duy trì chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng, linh hoạt, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống khi cần thiết.
Đáng chú ý, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai các biện pháp cụ thể nhằm giảm từ 50 - 100 điểm cơ bản lãi suất huy động đối với các khoản tiền gửi mới có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng từ ngày 10/4.
Động thái này được đánh giá bám sát định hướng điều hành của Chính phủ, trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn tới đòi hỏi mặt bằng lãi suất phải được điều tiết theo hướng hợp lý hơn, thay vì tăng nóng như vừa qua.
Ngay sau chỉ đạo trên, nhiều tổ chức tín dụng đã nhanh chóng điều chỉnh biểu lãi suất huy động. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước như Agribank, Vietcombank đồng loạt giảm khoảng 0,5%/năm đối với các kỳ hạn dài từ 24 tháng trở lên.
Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, các đơn vị như VPBank, SeABank, BVBank, Sacombank… cũng nhanh chóng nhập cuộc, với mức điều chỉnh lãi suất huy động phổ biến trong khoảng 0,3 - 0,5%/năm, tập trung ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
Chia sẻ tại hội thảo “Nắm bắt cơ hội giữa dòng biến động” do Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) tổ chức mới đây, ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) cho biết, sở dĩ cuộc họp đầu tiên của tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tập trung vào vấn đề lãi suất là do thị trường có dấu hiệu bất thường.
Mặt bằng lãi suất trên thị trường đã tăng mạnh trong những ngày đầu tháng 4/2026. Có thời điểm một số ngân hàng đã đưa lãi suất huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng lên khoảng 9%. So với mặt bằng quý IV/2025, lãi suất đã tăng khoảng 2 - 2,5%. “Điều đó cho thấy một dấu hiệu khá bất thường, bởi vì thực tế nhu cầu vốn không phải là quá nhiều”, ông Hưng nhận định. Việc lãi suất tăng cao không xuất phát từ nhu cầu vốn đột biến, mà chủ yếu do một số ngân hàng chủ động đẩy lãi suất lên để hút vốn, khiến các ngân hàng khác phải phản ứng theo. Vì vậy, mức lãi suất này chưa phản ánh đúng thực tế. Trong bối cảnh lạm phát chỉ khoảng 4%, thì mức lãi suất huy động khoảng 6 - 7% là hợp lý. Việc lãi suất tăng lên mức 8 - 9% cho thấy có yếu tố bất thường và chưa phản ánh đúng điều kiện kinh tế vĩ mô.
Linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ

Khách hàng giao dịch tại BAOVIET Bank Hoàn Kiếm, Chi nhánh Hà Nội. Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN
Diễn biến hạ nhiệt của lãi suất huy động đang dần mở ra dư địa để các ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm lãi suất cho vay.
Đáng chú ý, Nam A Bank hiện là ngân hàng ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi hạ tới 3%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân từ ngày 11/4. Trong khi đó, KienlongBank cũng điều chỉnh giảm khoảng 1%/năm cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Agribank áp dụng cơ chế liên kết giữa lãi suất huy động và cho vay, khi lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn cũng được điều chỉnh tương ứng.
Dù chưa lan rộng trên toàn hệ thống, các động thái này cho thấy xu hướng giảm lãi suất cho vay đã bắt đầu hình thành, phù hợp với định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.
Theo ông Nguyễn Xuân Bình, Giám đốc Khối Phân tích KBSV, mặt bằng lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng hiện phổ biến ở mức 6–7,5%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Tuy nhiên, đây chưa phải là vùng lãi suất cao so với giai đoạn trước COVID-19. “Với mặt bằng hiện tại có thể coi là mức chấp nhận được, không còn thấp nhưng cũng chưa phải cao. Nếu duy trì mức này, lãi suất cho vay, kể cả ở các lĩnh vực rủi ro hơn như bất động sản, hoàn toàn có thể giảm về khoảng 10,5 - 12%/năm”, ông Bình nhận định.
Ở góc nhìn thận trọng hơn, các chuyên gia của Công ty Chứng khoán Mirae Asset (Việt Nam) cho rằng, việc các ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất gần đây chủ yếu nhằm ổn định mặt bằng, thay vì phát tín hiệu cho một chu kỳ nới lỏng mạnh. Thanh khoản hệ thống vẫn đang được điều tiết linh hoạt, trong khi tăng trưởng tín dụng tiếp tục nằm trong kiểm soát.
Theo đó, mặt bằng lãi suất được dự báo sẽ đi ngang hoặc giảm nhẹ, với dư địa tăng thêm (nếu có) chỉ khoảng 20–30 điểm cơ bản.
Dù dư địa giảm lãi suất đang mở ra, việc điều hành chính sách tiền tệ vẫn đối mặt nhiều thách thức. Áp lực từ lạm phát, tỷ giá và thanh khoản khiến dư địa điều chỉnh không còn nhiều, trong khi yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội nhận định, điều hành chính sách tiền tệ hiện nay là “bài toán khó” không chỉ với Việt Nam mà với các ngân hàng trung ương trên toàn cầu, khi bối cảnh kinh tế thế giới liên tục biến động.
Theo ông, chính sách tiền tệ cần được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và dựa trên nhiều kịch bản, thay vì cứng nhắc theo kế hoạch ban đầu. Những biến động mới như khủng hoảng năng lượng hay yếu tố địa chính trị, đòi hỏi cơ quan điều hành phải điều chỉnh kịp thời để phù hợp với thực tiễn.
Đáng chú ý, trong bối cảnh hiện nay, chính sách tiền tệ phải theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu, từ kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng đến đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, ưu tiên hàng đầu vẫn là duy trì thanh khoản và ổn định hệ thống.
“Lạm phát hiện nay chủ yếu đến từ yếu tố chi phí đẩy, không phải do cung tiền. Nếu siết tiền tệ như các giai đoạn trước, thị trường có thể rơi vào trạng thái thiếu thanh khoản”, ông Ngân lưu ý.
Trong bối cảnh dư địa điều hành ngày càng thu hẹp, việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất thời gian qua được xem là kết quả tích cực. Tuy nhiên, cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn địn vĩ mô sẽ tiếp tục là phép thử lớn đối với chính sách tiền tệ trong thời gian tới.











